
Cây chôm chôm
Cây chôm chôm là cây ăn trái nhiệt đới có giá trị cao, phù hợp vùng nóng ẩm. Cẩm nang hướng dẫn chọn giống, chăm sóc, bón phân và phòng sâu bệnh.
1. Giới thiệu tổng quan
Cây chôm chôm là cây ăn trái nhiệt đới có nguồn gốc Đông Nam Á, hiện được trồng nhiều ở Nam Bộ, đặc biệt tại các vùng có khí hậu nóng ẩm, đất phù sa hoặc đất đỏ bazan thoát nước tốt.
2. Chuẩn bị giống
Nên chọn giống ghép hoặc chiết từ cây mẹ khỏe, sai trái, chất lượng ổn định, ít nhiễm sâu bệnh. Cây giống đạt yêu cầu cao 60-80 cm, thân thẳng, lá xanh, rễ phát triển tốt và không bị long bầu.
3. Chuẩn bị đất
Cây chôm chôm thích hợp với đất tơi xốp, giàu hữu cơ, thoát nước tốt nhưng vẫn giữ ẩm. Đất phù sa ven sông, đất thịt nhẹ, đất đỏ bazan đều có thể trồng nếu chủ động tưới tiêu.
4. Môi trường khí hậu
5. Phân bón
6. Sâu bệnh
- Sâu đục trái
- Triệu chứng
- Trái có lỗ nhỏ, quanh lỗ thường có phân sâu hoặc dịch chảy ra. Bên trong cơm bị hư, thâm, dễ rụng sớm hoặc giảm giá trị thương phẩm.
- Cách phòng trị
- Vệ sinh vườn, thu gom trái rụng và trái bị hại đem tiêu hủy. Tỉa tán thông thoáng để giảm nơi trú ẩn của sâu trưởng thành. Bao trái đúng thời điểm khi trái còn nhỏ giúp hạn chế gây hại. Khi mật số cao, dùng thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng cho cây ăn trái, phun đúng liều và đảm bảo thời gian cách ly.
- Rệp sáp
- Triệu chứng
- Rệp bám ở đọt non, cuống trái, chùm trái và mặt dưới lá, có lớp sáp trắng bao phủ. Cây bị hại nặng thường chậm lớn, trái nhỏ, dễ có nấm bồ hóng đen trên lá và vỏ trái.
- Cách phòng trị
- Cắt bỏ cành rậm rạp, quản lý kiến vì kiến thường bảo vệ và phát tán rệp. Dùng nước áp lực vừa phải rửa bớt rệp ở chùm trái nếu mật số thấp. Bảo vệ thiên địch trong vườn, hạn chế phun thuốc tràn lan. Khi cần xử lý hóa học, phun tập trung nơi rệp cư trú và luân phiên hoạt chất được phép dùng.
- Bọ xít muỗi
- Triệu chứng
- Bọ chích hút đọt non, bông và trái non làm xuất hiện vết chấm nâu đen, mô bị chai hoặc khô. Hoa và trái non có thể rụng nhiều, trái lớn bị sần vỏ, giảm mẫu mã.
- Cách phòng trị
- Theo dõi vườn từ lúc ra đọt non, ra hoa đến đậu trái non để phát hiện sớm. Tỉa cành tạo tán thông thoáng, không để vườn quá ẩm và rậm. Có thể rung cành kiểm tra vào sáng sớm khi bọ còn hoạt động yếu. Nếu mật số vượt ngưỡng, phun thuốc phù hợp vào sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thời điểm hoa nở rộ có nhiều côn trùng thụ phấn.
- Bệnh thán thư
- Triệu chứng
- Trên lá, hoa và trái xuất hiện đốm nâu đen, vết bệnh lan rộng trong điều kiện ẩm. Chùm hoa bị khô, trái bị nám, thối cục bộ hoặc rụng khi bệnh nặng.
- Cách phòng trị
- Tỉa bỏ cành bệnh, cành khuất trong tán và thu gom tàn dư đem tiêu hủy. Không tưới phun lên tán vào chiều tối, nhất là giai đoạn ra hoa và nuôi trái. Bón phân cân đối, tránh thừa đạm làm đọt non mềm yếu. Khi thời tiết mưa ẩm kéo dài, có thể phun phòng bằng thuốc trừ nấm được phép sử dụng, luân phiên nhóm hoạt chất để hạn chế kháng thuốc.
- Bệnh phấn trắng
- Triệu chứng
- Lá non, chùm hoa hoặc trái non có lớp bột trắng mỏng, sau đó mô bị khô, biến dạng hoặc rụng. Bệnh thường phát triển mạnh khi ẩm độ cao, tán rậm và thiếu nắng.
- Cách phòng trị
- Tạo tán thoáng, giữ khoảng cách trồng hợp lý để ánh sáng vào đều trong vườn. Loại bỏ bộ phận bị bệnh nặng, không để cành lá bệnh tích tụ dưới gốc. Tưới nước vào gốc thay vì tưới lên tán. Phun phòng trị bằng thuốc trừ nấm phù hợp khi bệnh mới xuất hiện, ưu tiên xử lý sớm ở giai đoạn đọt non và trước ra hoa.
| Sâu bệnh | Triệu chứng | Cách phòng trị |
|---|---|---|
Sâu đục trái | Trái có lỗ nhỏ, quanh lỗ thường có phân sâu hoặc dịch chảy ra. Bên trong cơm bị hư, thâm, dễ rụng sớm hoặc giảm giá trị thương phẩm. | Vệ sinh vườn, thu gom trái rụng và trái bị hại đem tiêu hủy. Tỉa tán thông thoáng để giảm nơi trú ẩn của sâu trưởng thành. Bao trái đúng thời điểm khi trái còn nhỏ giúp hạn chế gây hại. Khi mật số cao, dùng thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng cho cây ăn trái, phun đúng liều và đảm bảo thời gian cách ly. |
Rệp sáp | Rệp bám ở đọt non, cuống trái, chùm trái và mặt dưới lá, có lớp sáp trắng bao phủ. Cây bị hại nặng thường chậm lớn, trái nhỏ, dễ có nấm bồ hóng đen trên lá và vỏ trái. | Cắt bỏ cành rậm rạp, quản lý kiến vì kiến thường bảo vệ và phát tán rệp. Dùng nước áp lực vừa phải rửa bớt rệp ở chùm trái nếu mật số thấp. Bảo vệ thiên địch trong vườn, hạn chế phun thuốc tràn lan. Khi cần xử lý hóa học, phun tập trung nơi rệp cư trú và luân phiên hoạt chất được phép dùng. |
Bọ xít muỗi | Bọ chích hút đọt non, bông và trái non làm xuất hiện vết chấm nâu đen, mô bị chai hoặc khô. Hoa và trái non có thể rụng nhiều, trái lớn bị sần vỏ, giảm mẫu mã. | Theo dõi vườn từ lúc ra đọt non, ra hoa đến đậu trái non để phát hiện sớm. Tỉa cành tạo tán thông thoáng, không để vườn quá ẩm và rậm. Có thể rung cành kiểm tra vào sáng sớm khi bọ còn hoạt động yếu. Nếu mật số vượt ngưỡng, phun thuốc phù hợp vào sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thời điểm hoa nở rộ có nhiều côn trùng thụ phấn. |
Bệnh thán thư | Trên lá, hoa và trái xuất hiện đốm nâu đen, vết bệnh lan rộng trong điều kiện ẩm. Chùm hoa bị khô, trái bị nám, thối cục bộ hoặc rụng khi bệnh nặng. | Tỉa bỏ cành bệnh, cành khuất trong tán và thu gom tàn dư đem tiêu hủy. Không tưới phun lên tán vào chiều tối, nhất là giai đoạn ra hoa và nuôi trái. Bón phân cân đối, tránh thừa đạm làm đọt non mềm yếu. Khi thời tiết mưa ẩm kéo dài, có thể phun phòng bằng thuốc trừ nấm được phép sử dụng, luân phiên nhóm hoạt chất để hạn chế kháng thuốc. |
Bệnh phấn trắng | Lá non, chùm hoa hoặc trái non có lớp bột trắng mỏng, sau đó mô bị khô, biến dạng hoặc rụng. Bệnh thường phát triển mạnh khi ẩm độ cao, tán rậm và thiếu nắng. | Tạo tán thoáng, giữ khoảng cách trồng hợp lý để ánh sáng vào đều trong vườn. Loại bỏ bộ phận bị bệnh nặng, không để cành lá bệnh tích tụ dưới gốc. Tưới nước vào gốc thay vì tưới lên tán. Phun phòng trị bằng thuốc trừ nấm phù hợp khi bệnh mới xuất hiện, ưu tiên xử lý sớm ở giai đoạn đọt non và trước ra hoa. |
7. Tưới
Giai đoạn mới trồng cần giữ ẩm ổn định để cây nhanh bén rễ, nhưng không để nước đọng quanh gốc. Trong 1-2 tháng đầu, tưới mỗi ngày hoặc cách ngày tùy thời tiết, mỗi lần tưới vừa đủ ướt vùng rễ.
8. Thu hoạch
Cây chôm chôm thường cho thu hoạch ổn định sau 3-4 năm trồng nếu chăm sóc tốt. Thời điểm hái thích hợp là khi vỏ trái chuyển màu đặc trưng của giống, gai mềm, cơm dày và vị ngọt rõ.
9. Một số mẹo
Không trồng quá dày vì tán cây lớn, dễ thiếu ánh sáng và tăng sâu bệnh. Khoảng cách phổ biến là 8 x 8 m hoặc 10 x 10 m, có thể điều chỉnh theo đất, giống và cách tạo tán.