Bỏ qua đến nội dung chính
Thứ Sáu, ngày 1 tháng 5 năm 2026|

Gỡ nút thắt con giống, dịch bệnh để cá tra Việt Nam bứt phá

Tác giả: · Xuất bản:
Thủy sảnkhoảng 2 giờ trước4 lượt xem9 phút đọc
Gỡ nút thắt con giống, dịch bệnh để cá tra Việt Nam bứt phá
🎧 Nghe bài viết

Cá tra là một trong những ngành hàng chủ lực của thủy sản Việt Nam, được xác định là sản phẩm quốc gia nhờ quy mô sản xuất lớn, thị trường xuất khẩu rộng và giá trị kinh tế cao. Mỗi năm, ngành hàng này đóng góp kim ngạch ổn định khoảng 2-2,2 tỷ USD, tạo sinh kế cho nhiều vùng nuôi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giữ vai trò quan trọng trong chuỗi chế biến, xuất khẩu thủy sản.

Tuy nhiên, trước bối cảnh thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn, các chuyên gia cho rằng cá tra Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải nâng cấp toàn chuỗi. Trong đó, hai điểm nghẽn nổi bật là con giống và dịch bệnh. Nếu không xử lý căn cơ, những hạn chế này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí sản xuất, chất lượng thương phẩm và khả năng cạnh tranh dài hạn.

Con giống quyết định hiệu quả cả chuỗi cá tra

Theo ThS Trần Hữu Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước ngọt miền Nam, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, con giống giữ vai trò then chốt trong nuôi cá tra. Chất lượng giống quyết định tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng kháng bệnh, sức chống chịu với biến động môi trường và tỷ lệ sống của cá trong suốt quá trình nuôi.

Hiện nay, ngành cá tra có diện tích nuôi khoảng 5.500-5.700 ha, sản lượng thương phẩm đạt 1,6-1,8 triệu tấn/năm. Diện tích ương giống khoảng 2.000 ha, cung ứng 4-4,5 tỷ con giống/năm. Dù vậy, trong giai đoạn 2024-2025, nguồn giống có thời điểm khan hiếm cục bộ, giá tăng mạnh, tác động trực tiếp đến kế hoạch thả nuôi và chi phí đầu vào của chuỗi nuôi thương phẩm.

Ông Phúc phân tích, biến đổi khí hậu, thời tiết mưa nắng thất thường và dịch bệnh diễn biến phức tạp đang làm giảm tỷ lệ sống của cá giống. Có thời điểm, tỷ lệ sống chỉ đạt 5-15%. Một số vùng ghi nhận tình trạng cá chết nhiều trước 30 ngày tuổi. Bên cạnh yếu tố môi trường, nguyên nhân còn đến từ chất lượng cá bố mẹ, kỹ thuật nuôi vỗ, nguồn thức ăn tự nhiên chưa được chuẩn hóa và sự liên kết giữa các khâu sản xuất giống còn lỏng lẻo.

Chọn giống bằng di truyền, hệ gen và dinh dưỡng đồng bộ

Để nâng cao chất lượng giống cá tra, ThS Trần Hữu Phúc cho rằng cần kết hợp đồng thời giữa di truyền, công nghệ ươm và dinh dưỡng. Trọng tâm là nâng cao hiệu quả chọn giống bằng cách kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ hệ gen, qua đó tăng độ chính xác trong chọn lọc và duy trì tiến bộ di truyền qua các thế hệ.

Cùng với đó, hệ thống trại giống cần được tái cấu trúc theo hướng kiểm soát chặt chẽ môi trường, vi sinh và an toàn sinh học. Đây là điều kiện quan trọng để giảm rủi ro dịch bệnh ngay từ giai đoạn đầu, vốn là giai đoạn nhạy cảm nhất trong chu kỳ sản xuất cá tra. Việc chuẩn hóa quy trình ương giống cũng giúp nâng tỷ lệ sống, ổn định nguồn cung và giảm áp lực giá giống khi thị trường biến động.

Một hướng quan trọng khác là hoàn thiện và áp dụng rộng rãi chiến lược dinh dưỡng xuyên suốt từ cá bố mẹ đến cá giống. Theo ông Phúc, khi các giải pháp về di truyền, công nghệ ươm, kiểm soát trại giống và dinh dưỡng được triển khai đồng bộ, ngành cá tra sẽ có nền tảng vững chắc hơn để phát triển bền vững.

Dòng cá tra chịu mặn mở thêm không gian nuôi

Ở góc độ thích ứng với biến đổi khí hậu, GS.TS Dương Thúy Yên, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, cho biết vùng nuôi Đồng bằng sông Cửu Long đã chịu tác động nặng nề của xâm nhập mặn, đặc biệt trong các năm 2016 và 2020. Đây là thách thức lớn với ngành cá tra, vốn phát triển chủ yếu trong môi trường nước ngọt.

Theo GS Yên, giai đoạn 2017-2022, chương trình hợp tác quốc tế giữa Đại học Cần Thơ và các đối tác Bỉ đã chọn tạo thành công dòng cá tra có khả năng chịu mặn đến 10‰. Đàn cá nền được xây dựng từ 900 gia đình, được nuôi và chọn lọc liên tục trong môi trường nước lợ, trải qua nhiều giai đoạn đánh giá khắt khe về tăng trưởng và khả năng thích nghi.

Kết quả cho thấy sau 3 năm, cá vẫn sinh trưởng và sinh sản tốt trong điều kiện độ mặn 5‰, với các chỉ tiêu sinh sản tương đương cá nuôi nước ngọt. Đáng chú ý, thế hệ cá con G2 không chỉ thích nghi tốt hơn mà còn thể hiện xu hướng tăng trưởng và tỷ lệ sống vượt trội khi nuôi trong nước lợ.

GS Yên nhấn mạnh, việc tạo ra dòng cá tra chịu mặn không chỉ phục vụ vùng nước lợ mà còn có tiềm năng ứng dụng rộng hơn. Thực tế cho thấy dòng cá này vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tốt ngay cả trong môi trường nước ngọt, mở ra khả năng đa dạng hóa vùng nuôi và tăng sức chống chịu của ngành trước biến đổi khí hậu.

Đồng Tháp đẩy mạnh công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn

Ở cấp địa phương, Đồng Tháp là một trong những vùng trọng điểm của ngành cá tra. Theo ông Lê Duy Lam, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Đồng Tháp, sau sáp nhập, tỉnh Đồng Tháp mới có vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, dù có nhiều lợi thế tự nhiên, việc ứng dụng khoa học công nghệ vẫn chưa tạo được đột phá như kỳ vọng.

Địa phương xác định sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong toàn chuỗi, từ con giống đến nuôi thương phẩm. Các hướng ưu tiên gồm khai thác nguồn giống cải thiện di truyền, nâng cao tỷ lệ chủ động giống chất lượng cao, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, xử lý bùn thải thành năng lượng và phân bón, đồng thời nghiên cứu thay thế HCG trong sinh sản cá tra nhằm giảm chi phí.

Ông Lam cũng cho biết, tỉnh định hướng phát triển cá tra thích ứng mặn để mở rộng không gian nuôi. Cùng với đó là chuyển đổi số bằng các giải pháp như AI giám sát cho ăn, robot xử lý môi trường, hệ thống quan trắc nước tự động và IoT quản lý vùng nuôi. Việc số hóa nhật ký nuôi bằng giọng nói được kỳ vọng giúp người dân tiếp cận công nghệ thuận lợi hơn, nhất là trong các khâu ghi chép, theo dõi và truy xuất dữ liệu sản xuất.

Cần đầu tư dài hạn cho chọn giống và dữ liệu ngành

Theo TS Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, hiện có khoảng 160.000 con giống chọn lọc đã được chuyển giao đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, công tác chọn giống không thể làm trong ngắn hạn mà cần đầu tư bền bỉ trong 10-15 năm, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hệ gen để rút ngắn quá trình chọn lọc và nâng cao độ chính xác.

Ở khâu nuôi, tỷ lệ sống giai đoạn đầu vẫn còn thấp. Việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số còn hạn chế, trong khi dữ liệu ngành vẫn phân tán. Vì vậy, theo TS Tuấn, cần thúc đẩy liên kết ba nhà cùng với cơ chế phù hợp để đưa khoa học công nghệ vào thực tiễn hiệu quả hơn. Khi doanh nghiệp, nhà khoa học và người nuôi phối hợp chặt chẽ, các kết quả nghiên cứu mới có thể đi vào sản xuất, tạo ra thay đổi thực chất.

Kiểm soát môi trường và dịch bệnh là điều kiện sống còn

TS Lê Hồng Phước, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu môi trường và bệnh thủy sản miền Nam, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, cho rằng môi trường và dịch bệnh là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống, đặc biệt ở giai đoạn ương giống. Đây cũng là giai đoạn mà chỉ một biến động bất lợi về chất lượng nước hoặc mầm bệnh cũng có thể gây thiệt hại lớn.

Kết quả quan trắc tại 37 điểm vùng nuôi giai đoạn 2021-2025 cho thấy, khoảng 70% mẫu nước đạt mức rất tốt, 11% tốt, nhưng vẫn còn 19% ở mức trung bình và kém. Các chỉ tiêu biến động mạnh gồm nitrite, ammonia, phosphate và vi khuẩn cơ hội. Những biến động này cho thấy việc quan trắc thường xuyên và cảnh báo sớm cần được xem là công cụ quan trọng trong chỉ đạo sản xuất.

Đáng lo ngại, khảo sát từ năm 2010-2024 cho thấy vi khuẩn gây bệnh đã xuất hiện tình trạng kháng kháng sinh. Điều này buộc ngành cá tra phải tìm kiếm các giải pháp thay thế an toàn hơn, phù hợp với xu hướng sản xuất có trách nhiệm và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.

Theo TS Phước, cần kết hợp quan trắc môi trường với hệ thống cảnh báo sớm, đồng thời đẩy mạnh các giải pháp phòng bệnh thân thiện như vaccine, chế phẩm vi sinh, thảo dược, chất kích thích miễn dịch và thể thực khuẩn. Khi con giống tốt, môi trường được kiểm soát và dịch bệnh được phòng ngừa chủ động, cá tra Việt Nam sẽ có thêm dư địa để nâng chất lượng, ổn định sản lượng và giữ vững vị thế trên thị trường quốc tế.

Nguyễn Thị Hồng

Theo dõi thị trường cà phê Robusta và Arabica từ 2018. Cộng tác viên thường xuyên của các báo cáo ngành cà phê quốc tế.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Tính năng bình luận đang được phát triển. Vui lòng quay lại sau.