Chuyển đổi số nông nghiệp đang trở thành động lực quan trọng giúp ngành nông nghiệp và môi trường Quảng Ngãi đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả điều hành, hỗ trợ sản xuất và phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững hơn.
Từ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên nước, môi trường đến hỗ trợ mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, Quảng Ngãi đang từng bước hình thành nền tảng số phục vụ cả quản lý nhà nước lẫn hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Chuyển đổi số nông nghiệp lấy dữ liệu làm nền tảng quản lý
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, chuyển đổi số được xác định là một trong những giải pháp then chốt để thúc đẩy lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Trong những năm qua, ngành đã tập trung xây dựng hạ tầng dữ liệu, đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước.
Hiện toàn ngành đang cung cấp 211 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có 185 dịch vụ cấp sở và 26 dịch vụ cấp xã. Cùng với đó, 100% hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đã được số hóa. Đây là bước đi quan trọng nhằm rút ngắn thời gian xử lý công việc, tăng tính minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục liên quan đến nông nghiệp, tài nguyên và môi trường.
Nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được xây dựng, đưa vào vận hành để phục vụ công tác quản lý, giám sát và điều hành. Việc hình thành dữ liệu số không chỉ giúp cơ quan quản lý nắm bắt tình hình nhanh hơn, chính xác hơn mà còn tạo tiền đề cho các quyết định dựa trên thông tin cập nhật, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào phương thức thủ công như trước đây.
Giám sát tài nguyên, môi trường bằng hệ thống dữ liệu liên tục
Trong lĩnh vực tài nguyên nước, hệ thống giám sát khai thác, sử dụng nước của tỉnh đang theo dõi dữ liệu của khoảng 125 tổ chức, cá nhân được cấp phép. Mạng lưới quan trắc gồm 99 trạm đo mưa tự động, 11 trạm đo mực nước và 6 trạm cảnh báo ngập lụt đang cung cấp dữ liệu liên tục, phục vụ công tác phòng chống thiên tai và điều hành trong các tình huống thời tiết cực đoan.
Ở lĩnh vực môi trường, dữ liệu từ 56 trạm quan trắc nước thải, khí thải tự động của 29 doanh nghiệp đã được kết nối về Sở Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Việc kết nối thường xuyên này giúp tăng khả năng theo dõi các nguồn thải lớn, hỗ trợ phát hiện sớm nguy cơ ô nhiễm, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong tuân thủ quy định bảo vệ môi trường.
Theo ông Nguyễn Quang Trung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, cơ sở dữ liệu đất đai là một trong những kết quả nổi bật của quá trình Chuyển đổi số nông nghiệp và môi trường tại địa phương. Đến nay, tỉnh đã đồng bộ lên cơ sở dữ liệu quốc gia hơn 1,67 triệu thửa đất không gian, gần 1,56 triệu thửa đất thuộc tính, làm sạch dữ liệu cho hơn 1,15 triệu chủ sử dụng đất và số hóa hơn 885 nghìn hồ sơ.
Ông Trung cho biết, dữ liệu đất đai được cập nhật thường xuyên theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”, đồng thời kết nối theo thời gian thực với cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Cách làm này góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tra cứu, xác nhận và thực hiện các thủ tục về đất đai ngày càng lớn.
Không chỉ dừng ở đất đai, ngành thủy sản của tỉnh cũng đang khai thác các phần mềm quản lý nghề cá, truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử và cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm khai thác thủy sản. Các công cụ này hỗ trợ công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, thường được gọi là IUU. Song song đó, các hệ thống giám sát tài nguyên rừng, cảnh báo cháy rừng và theo dõi diễn biến rừng tiếp tục được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng.
Nông nghiệp thông minh lan tỏa đến hợp tác xã và hộ sản xuất
Chuyển đổi số nông nghiệp tại Quảng Ngãi không chỉ phục vụ hoạt động quản lý nhà nước mà còn từng bước đi vào sản xuất, kinh doanh. Ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đang hỗ trợ các chủ thể sản xuất tiếp cận giải pháp số trong quản lý sản xuất, vận hành chuỗi cung ứng, quảng bá sản phẩm, thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt.
Công tác xây dựng mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc được tiếp tục đẩy mạnh. Toàn tỉnh hiện có 67 mã số còn hiệu lực, gồm 65 mã số vùng trồng và 2 mã số cơ sở đóng gói. Trong đó, có 39 mã số vùng trồng xuất khẩu với diện tích hơn 672 ha cho các loại cây trồng chủ lực như sầu riêng, chuối, mít, chanh dây, dứa và dưa hấu.
Việc phát triển mã số vùng trồng có ý nghĩa quan trọng đối với nông sản hàng hóa, nhất là khi thị trường ngày càng yêu cầu chặt chẽ về truy xuất nguồn gốc, quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng. Cùng với đó, tỉnh đang khảo sát, lựa chọn địa điểm để phát triển các vùng nguyên liệu chanh dây và dứa phục vụ chế biến, hướng tới hình thành các chuỗi giá trị nông sản bền vững hơn.
Kinh tế số trong nông nghiệp cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Quảng Ngãi đã hỗ trợ 349 tổ chức, cá nhân đưa 588 sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, OCOP, hiện có 643 sản phẩm còn hiệu lực với sự tham gia của 320 chủ thể là doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Nhiều hợp tác xã đã chủ động tận dụng nền tảng số để giới thiệu sản phẩm, kết nối khách hàng và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Theo định hướng của ngành, thời gian tới Quảng Ngãi phấn đấu có từ 20-30% chủ thể OCOP tham gia các sàn thương mại điện tử trong và ngoài nước. Hoạt động bán hàng trực tuyến và quảng bá sản phẩm trên nền tảng số sẽ tiếp tục được thúc đẩy, qua đó giúp nông sản địa phương tiếp cận người tiêu dùng rộng hơn, giảm phụ thuộc vào kênh tiêu thụ truyền thống.
Ứng dụng AI, IoT và công nghệ mới để giảm rủi ro sản xuất
Ông Nguyễn Quang Trung cho biết, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được xác định là giải pháp đột phá để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp. Nhiều nhiệm vụ nghiên cứu đã được đề xuất, tập trung vào ứng dụng công nghệ số trong nuôi trồng thủy sản, canh tác thông minh, sản xuất nông nghiệp giảm phát thải và phát triển các vùng dược liệu.
Đáng chú ý, ngành đang phối hợp đề xuất triển khai hệ thống ứng dụng trí tuệ nhân tạo, AI, trong dự báo sinh vật gây hại cây trồng. Việc từng bước tích hợp AI vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành được kỳ vọng sẽ hỗ trợ công tác quản lý, điều hành và cảnh báo rủi ro nhanh hơn, nhất là trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp chịu tác động ngày càng rõ của thời tiết, dịch bệnh và biến động thị trường.
Tuy nhiên, theo ông Trung, lĩnh vực nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, suy giảm môi trường sản xuất, chi phí đầu vào tăng cao và yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc từ thị trường. Vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng suất, giảm rủi ro, gia tăng giá trị và hướng tới nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ngãi sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu số chuyên ngành, tích hợp dữ liệu lên Trung tâm điều hành thông minh, IOC, của tỉnh. Ngành cũng sẽ triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” nhằm nâng cao kỹ năng số cho nông dân, đồng thời thúc đẩy ứng dụng các công nghệ mới như AI, IoT, blockchain, cảm biến và drone trong quản lý sản xuất, cảnh báo rủi ro và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Mục tiêu cuối cùng của Chuyển đổi số nông nghiệp tại Quảng Ngãi là xây dựng nền nông nghiệp thông minh, xanh, hiện đại; nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và tạo thêm giá trị cho người dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.



