Bỏ qua đến nội dung chính
Thứ Ba, ngày 28 tháng 4 năm 2026|

Miền Tây trong vòng xoáy 'lũ nghèo': phù sa cạn, sinh kế đổi thay

Tác giả: · Xuất bản:
Thời sựkhoảng 2 giờ trước4 lượt xem5 phút đọc
Miền Tây trong vòng xoáy 'lũ nghèo': phù sa cạn, sinh kế đổi thay
🎧 Nghe bài viết

Trên cánh đồng lúa hai vụ ở xã Nhơn Hòa Lập, Tân Thạnh, Long An cũ, ông Nguyễn Văn Dũng, 52 tuổi, đứng nhìn mặt nước trải rộng dưới nắng chiều. Lũ năm nay tràn đồng, cảnh tượng tưởng như gợi lại một mùa nước nổi từng nuôi sống bao thế hệ cư dân Đồng Tháp Mười. Nhưng với ông Dũng, niềm vui ấy không còn trọn vẹn. Nước về nhiều hơn, song phù sa loãng, cá tôm thưa vắng, còn lợi ích của lũ đối với ruộng đồng và sinh kế nông thôn đã khác xa ký ức cũ.

'Hơn mười năm rồi mới có lũ lớn, mà lợi ích chẳng còn như xưa', ông Dũng nói. Gia đình ông thuộc số ít hộ vẫn giữ tập quán 'xả đồng sống chung với lũ' giữa những cánh đồng đã được đắp đê kín để làm lúa ba vụ. Sự đối lập ấy cho thấy một thực tế đang diễn ra ở miền Tây: lũ vẫn đến, thậm chí có năm nước dâng cao, nhưng không còn là mùa no đủ như trước. Một thập kỷ 'lũ nghèo' đã bào mòn dần những nguồn lợi tự nhiên, khiến nông dân làm lúa khó có lãi, ngư dân bỏ nghề, con trẻ rời quê lên thành phố kiếm sống.

Ký ức sống chung với lũ của người Đồng Tháp Mười

Đứng trên con đê ngăn giữa cánh đồng lúa ba vụ và ruộng lúa hai vụ đang xả nước, ông Dũng chỉ tay về phía mặt ruộng mênh mông. Ông nhớ những năm lũ lớn, nước ngập mái nhà nhưng người dân vẫn sống được nhờ cá, nhờ rau đồng, nhờ lớp phù sa bồi đắp sau mỗi mùa nước. Với cư dân vùng trũng, lũ không chỉ là hiện tượng thiên nhiên, mà còn là nhịp sống, là lịch sản xuất và là nguồn lương thực tự nhiên.

Gia đình ông Dũng nhiều đời làm nông. Theo lời ông, xưa dân Đồng Tháp Mười gọi khoảng tháng 8 đến tháng 10 âm lịch là mùa lụt. Nước từ thượng nguồn tràn đồng rồi rút chậm, không ồ ạt như miền Trung, miền Bắc. Khi chưa có đê bao, cả làng ngập trắng nước, người dân đi lại bằng xuồng. Nhà ai có người mất cũng phải chờ lũ rút mới an táng; có khi phải dựng khung gỗ, gác quan tài qua mùa nước. Đó là những khó khăn rất thật, nhưng cũng là một phần ký ức của vùng đất biết nương theo nước để tồn tại.

'Có năm lũ còn vài tấc nữa là ngập mái, tôi phải khoét nóc đưa xuồng vào, đêm lấy dây cột chân con gái sợ ngủ quên rơi xuống nước', ông Dũng kể. Những câu chuyện như vậy cho thấy lũ từng dữ dội, nhưng người dân không xem đó đơn thuần là đối tượng để chống lại. Họ đọc dấu hiệu tự nhiên để đoán nước, nhìn rễ cây cà na, bụi điên điển mọc cao đến đâu để biết lũ chỉ dâng tới đó. Trước những năm 1990, nông dân còn trồng giống lúa mùa Trường Hưng, gieo từ tháng 4 âm lịch. Nước dâng đến đâu thân lúa vươn theo đến đó, đến Tết mới gặt.

Trong điều kiện chưa có nước giếng hay máy lọc, người dân múc nước ngoài đồng vào lu, dùng phèn chua cho lắng rồi nấu uống. Ruộng đồng khi ấy ít phân thuốc, nên nước lũ vừa là nguồn sống, vừa có vai trò như một 'người làm sạch'. Lũ cuốn trôi cỏ dại, mầm bệnh, độc chất và để lại phù sa cho mùa vụ sau. Đối với nền nông nghiệp dựa nhiều vào tự nhiên, chu kỳ nước nổi chính là khoảng nghỉ cần thiết để đất hồi phục.

Mùa no đủ nay thành nỗi lo của nông dân

Trong ký ức ông Dũng, mùa lũ là mùa sung túc. Sáng sớm, chỉ cần thả tay lưới 50 m ra đồng, nửa giờ sau đã có chục ký cá linh, cá rô. Ngồi câu một buổi cũng đủ nồi cơm. Nước về kéo theo bông súng, điên điển, hẹ nước, những loại rau đồng sau này trở thành đặc sản miền Tây. 'Mùa đó dân sống khỏe suốt ba tháng nước nổi', ông nói.

Lũ cũng giúp ruộng 'nghỉ' rồi hồi sinh. Cuối tháng 9 lũ rút, người dân gieo vụ đông xuân, giữa tháng Giêng thu hoạch. Sau đó ruộng tiếp tục nghỉ vài tháng trước vụ hè thu tháng 4. Khi lúa vừa gặt xong, nước lại về, bà con 'bơm dề, sạt dệt' đồng loạt, vừa tiết kiệm chi phí, vừa chuẩn bị vụ mới. Những năm lũ lớn, lúa trúng mùa, chi phí phân bón giảm khoảng 30%, mầm bệnh và cỏ dại được nước cuốn đi. Đó là lợi ích kép: sản xuất có chi phí thấp hơn, đất đai đỡ bị khai thác liên tục.

Từ sau năm 2011, lũ nhỏ dần. Ruộng không còn được 'tắm' phù sa như trước, đất chai hơn, chi phí phân bón tăng trong khi lúa mất giá. Sự thay đổi này đẩy nông dân vào thế khó: muốn giữ năng suất phải đầu tư nhiều hơn, nhưng đầu ra không bảo đảm để bù đắp chi phí. Ông Dũng từng chuyển sang trồng sen, rồi lại bỏ vì sen chết héo khi hàng xóm phun thuốc. Giờ ông chỉ còn hơn một hecta ruộng, phải trồng thêm mít, nuôi bò để sống.

Điều khiến ông Dũng day dứt là sự đổi thay ngay trong bữa ăn hằng ngày. Từ con cá đến mớ rau, nay ông đều phải ra chợ mua. Con gái lớn đã theo chồng; năm nay, con trai ông cũng rời quê lên trung tâm xin việc. Sau hơn một thập kỷ 'lũ nghèo', ông nói thứ mình mất nhiều hơn những gì còn giữ lại. Đó không chỉ là mất nguồn lợi tự nhiên, mà còn là sự đứt gãy trong cách sống từng gắn bó chặt với nước nổi.

Nước cạn nguồn lợi, nghề cá đứng trước ngã rẽ

Cách nhà ông Dũng hơn trăm cây số, Trần Vũ Linh, 34 tuổi, cùng em trai chạy chiếc vỏ lãi ra cánh đồng ngập nước ở xã Bình Thạnh, Đồng Tháp, sát biên giới Campuchia. Hai anh em đổ hơn 100 chiếc lú, loại bẫy được gọi là 'mười hai cửa ngục' vì cá đã vào thì khó thoát. Thế nhưng đến trưa, thành quả chỉ là vài con chạch nhỏ, ít tép, cua. Sự vắng lặng của nguồn cá đối lập hoàn toàn với hình ảnh mùa nước nổi đầy ắp sản vật trong ký ức những người làm nghề sông nước.

'Hồi xưa đặt 150 lú, mỗi ngày thu 20-30 ký cá, giờ giảm gấp mười', Linh nói. Gia đình anh có ba đời làm nghề cá. Cha anh, ông Sáu Thạnh, từng đánh bắt ở hồ Tonle Sap, Campuchia, rồi về Đồng Tháp Mười sống trên nhà nổi. Hai mươi năm trước, mùa lũ là thời điểm 'ăn nên làm ra': rắn bò lên gò, cá tra dầu, cá linh nhiều đến mức 'ghe đục phải xếp hàng mua'. Nay mỗi ngày ông chỉ kiếm được trăm nghìn, đủ tiền chợ. Câu nói 'Sông giờ hết cá, chỉ còn nước' của ông Sáu gói lại nỗi buồn của cả một nghề.

Khi nguồn cá không còn đủ nuôi sống gia đình, nhiều bạn nghề đã bỏ xứ đi Bình Dương, Long An tìm việc. Linh cũng tính đến chuyện 'giải nghệ' nếu năm sau nước vẫn kém. Với gia đình anh, điều đó không chỉ là đổi việc làm, mà còn là kết thúc ba đời bám sông nước. Câu chuyện của Linh phản ánh rõ hệ lụy xã hội của 'lũ nghèo': khi tài nguyên suy giảm, người lao động phải rời bỏ kỹ năng truyền thống và tìm sinh kế ở nơi khác.

Lũ lớn vẫn gây thiệt hại khi không gian trữ nước bị thu hẹp

Nghịch lý ở miền Tây là lũ không còn giàu phù sa, cá tôm như trước, nhưng vẫn có thể gây thiệt hại lớn. Tại Tân Châu, An Giang, nước cao hơn năm trước 0,75 m làm 250 nhà ngập, nhiều tuyến đường bị chia cắt, người dân phải đi lại bằng xuồng. Nhiều đoạn đê xung yếu ở Long An và Đồng Tháp vỡ, khiến gần 1.000 ha lúa vụ 3 mất trắng, 700 ha cây ăn quả hư hại.

Ở hạ nguồn, triều cường Cần Thơ đạt đỉnh 2,33 m, vượt mốc lịch sử 2022, làm hàng trăm hộ dân ngập sâu, hơn 4.000 ha hoa màu thiệt hại. Vĩnh Long cũng mất hơn 3.000 ha, tổng thiệt hại toàn vùng khoảng 100 tỷ đồng. Những con số này cho thấy rủi ro không chỉ đến từ lượng nước, mà còn đến từ cách nước di chuyển trong một đồng bằng đã bị chia cắt bởi đê bao, cống đập và các vùng sản xuất khép kín.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long, phân tích lũ phụ thuộc lượng mưa thượng nguồn, thường biến động 15% mỗi năm và có thể chênh đến 30% giữa các thập kỷ. Năm nay do La Nina kéo dài đến tháng 12, mưa nhiều khiến lũ dâng, song mực nước ở Tân Châu, Châu Đốc vẫn thấp hơn các đợt năm 2000 và 2011. Theo ông, 'lũ thấp nhưng nhiều nơi vẫn ngập vì trung tâm đồng bằng đã mất không gian trữ nước'.

Trước đây, mỗi mùa nước nổi từ tháng 8 đến 10 âm lịch, hai vùng trữ lũ tự nhiên là Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười có thể chứa 9,2-10 tỷ m³ nước. Hơn 30 năm qua, hệ thống đê bao khép kín phục vụ lúa vụ 3 khiến khả năng trữ nước giảm mạnh: Tứ giác Long Xuyên chỉ còn 4,7 tỷ m³, Đồng Tháp Mười 6,5 tỷ. Khi đồng ruộng không còn là nơi đón nước, áp lực dồn xuống sông rạch, đô thị và vùng hạ lưu.

Đồng bằng mất mạch nước và hệ lụy dài hạn

Ông Nguyễn Hữu Thiện chỉ ra rằng trước đây thủy triều từ biển theo bảy nhánh sông tỏa vào đồng ruộng, góp phần điều hòa dòng chảy. Nay đê và cống khép kín khiến nước triều bị dồn, chảy thẳng vào trung tâm; trong khi nước thượng nguồn không có nơi trữ, dồn về hạ lưu. Khi hai nguồn nước gặp nhau giữa đồng bằng, mực nước sông dâng cao. Ruộng vườn được bao đê nên nước không thoát, tràn vào đô thị. Ở Cần Thơ, khu Ninh Kiều khép kín đê bao, nước lại dồn sang Bình Thủy. Trong khi vùng giữa đồng bằng ngập sâu, nhiều cánh đồng ven biển trong khu ngọt hóa vẫn khô ráo.

'Đồng bằng bây giờ như người bị cao huyết áp, mất mạch máu, chỉ còn động mạch chủ', ông Thiện ví von. Theo cách nhìn này, nước lũ từ thượng nguồn ép xuống, thủy triều từ biển ép lên khiến 'động mạch chủ phình'. Hình ảnh ấy diễn giải một vấn đề cốt lõi: khi không gian phân tán nước bị thu hẹp, mọi biến động của lũ và triều đều trở nên cực đoan hơn đối với khu dân cư, đô thị và sản xuất.

Lũ từ sông đổ ra biển hằng năm còn tạo vùng nước mặn vừa phải, giàu phù sa, nuôi dưỡng hệ sinh thái ven biển. Nhờ đó, sản lượng thủy sản biển của đồng bằng tương đương tổng sản lượng các vùng còn lại. Phù sa tạo lớp nước đục bao phủ hơn 700 km bờ biển, bồi đắp đồng bằng suốt 6.000 năm, trung bình mỗi năm tiến 16 m về phía Đông, 26 m về Mũi Cà Mau. Khi ít phù sa, sóng ăn mòn đất cát, gây sạt lở.

Lũ cũng cung cấp nước ngọt mùa khô, cân bằng mặn - ngọt, bồi đắp dinh dưỡng cho ruộng vườn, rửa phèn và độc chất trong đất. Thiếu phù sa, sông rỗng thành 'nước đói', lấy đất bờ bồi lấp lại, khiến sạt lở gia tăng. Mỗi mùa nước lớn, hàng trăm nghìn tấn cá trắng theo lũ về đồng, cung cấp nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho người dân và hệ sinh thái. Như ông Thiện nói, thiệt hại do vỡ đê, ngập lúa có thể dễ tính bằng tiền, nhưng lợi ích của nước lũ thì rất lớn và khó đo đếm.

Rời quê để tìm đường sống mới

Những lợi ích ấy, trước hết, là điều người dân vùng lũ cảm nhận rõ nhất. Chiều đầu tháng 11, mưa lớn làm sóng đánh tròng trành căn nhà nổi của ông Sáu Thạnh, vợ chồng ông phải dùng dây tời neo lại. Sau ba thế hệ rong ruổi nghề cá, thấy cháu được học trong căn nhà kiên cố, ông phần nào an lòng. Nhưng tuổi cao, lại mang bệnh tiểu đường, ông vẫn chưa thể nghỉ ngơi khi cuộc sống sau hàng chục mùa 'lũ nghèo' còn chật vật.

Mấy hôm nay, người quen ở Kiên Giang gọi rủ ông đi đặt lú bắt cua, cá biển. Ông Sáu nói sông đã hết cá, nên phải ra biển, nơi còn nhiều thủy sản, để đánh bắt. Nếu tằn tiện, mỗi năm ông có thể kiếm gần 100 triệu đồng gửi về cho vợ cất căn nhà nhỏ, để tuổi già đỡ vất vả. Lựa chọn ấy cho thấy sinh kế sông nước ở nội đồng đã suy giảm đến mức người làm nghề phải dịch chuyển ra không gian khác để tiếp tục tồn tại.

Câu chuyện do Hoàng Nam ghi nhận trong tuyến bài về miền Tây dẫn tới Bài 3: 'Canh bạc' lúa vụ ba. Từ ruộng lúa của ông Nguyễn Văn Dũng đến căn nhà nổi của ông Sáu Thạnh, 'lũ nghèo' không chỉ là cách gọi một mùa nước ít phù sa, ít cá tôm. Đó còn là dấu hiệu của một đồng bằng đang mất dần nhịp điều hòa tự nhiên, nơi mỗi quyết định về đê bao, mùa vụ và không gian trữ nước đều tác động trực tiếp đến đời sống của hàng triệu cư dân miền Tây.

Mai Thị Phương

Theo dõi mô hình lúa hữu cơ, lúa giảm phát thải và thị trường tín chỉ carbon nông nghiệp. Có loạt bài về dự án 1 triệu ha lúa.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Tính năng bình luận đang được phát triển. Vui lòng quay lại sau.