Bỏ qua đến nội dung chính
Thứ Sáu, ngày 15 tháng 5 năm 2026|

Xanh hóa vựa lúa số 1: Đồng bằng sông Cửu Long chủ động thích ứng

Tác giả: · Xuất bản:
Quản lý nông nghiệpkhoảng 22 giờ trước16 lượt xem12 phút đọc
Xanh hóa vựa lúa số 1: Đồng bằng sông Cửu Long chủ động thích ứng
🎧 Nghe bài viết

Đồng bằng sông Cửu Long, vùng sản xuất lúa gạo và thủy sản trọng điểm của cả nước, đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng rõ ràng: không thể chỉ xử lý thiên tai khi sự cố đã xảy ra, mà phải chuyển sang quản trị rủi ro, chủ động thích ứng và tôn trọng quy luật tự nhiên.

Trong bối cảnh sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn diễn biến nghiêm trọng hơn, Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 24/4/2026 về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026-2035 được xem là định hướng quan trọng. Tinh thần xuyên suốt là xanh hóa vùng “Vựa lúa số 1 Việt Nam”, chuyển từ tư duy “ứng phó bị động” sang “chủ động thích ứng”, bảo đảm phát triển bền vững cho toàn vùng.

Áp lực ngày càng lớn lên vùng sản xuất lúa gạo, thủy sản trọng điểm

Những năm gần đây, biến đổi khí hậu không còn là nguy cơ xa mà đã hiện diện trong đời sống sản xuất của Đồng bằng sông Cửu Long. Tình trạng sụt lún đất, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn không chỉ gây thiệt hại cục bộ ở một vài địa phương, mà đang trở thành thách thức liên vùng, tác động trực tiếp đến an ninh nguồn nước, sinh kế của hàng triệu người dân và nền sản xuất nông nghiệp của cả nước.

Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai, sụt lún hiện được ghi nhận ở hầu hết khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với tốc độ từ 0,5-3 cm/năm; riêng khu vực ven biển phổ biến từ 1,5-2,5 cm/năm. Trong 5 năm gần đây, nhiều nơi ghi nhận mức sụt lún từ dưới 5 cm đến trên 10 cm. Đây là những con số cho thấy nền đất của vùng đang chịu sức ép rất lớn, trong khi nhiều hoạt động dân sinh, hạ tầng và sản xuất vẫn phụ thuộc chặt vào điều kiện địa hình thấp, hệ thống sông rạch dày đặc và nguồn nước biến động theo mùa.

Riêng sạt lở, từ năm 2016 đến nay, toàn vùng đã xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài gần 1.211 km. Trong đó có 315 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến đời sống người dân, cơ sở hạ tầng và sản xuất nông nghiệp. Khi sạt lở xảy ra dọc bờ sông, bờ biển, thiệt hại không chỉ là mất đất, mất nhà, mà còn kéo theo rủi ro đứt gãy giao thông, ảnh hưởng công trình thủy lợi, làm đảo lộn kế hoạch sản xuất và gây bất ổn sinh kế lâu dài.

Từ xử lý sự cố sang quản trị tổng thể, liên vùng

Thực tế trên đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên mới, thay vì cố gắng chống lại biến đổi khí hậu bằng các giải pháp đơn lẻ, ngắn hạn. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Kết luận số 26-KL/TW, trong đó nhấn mạnh cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ giữa quy hoạch, hạ tầng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và tổ chức lại sản xuất.

Tại Hội nghị triển khai thực hiện Kết luận số 26-KL/TW diễn ra mới đây tại thành phố Cần Thơ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đánh giá các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã từng bước chuyển mạnh từ tư duy “ứng phó bị động” sang “chủ động phòng ngừa, thích ứng” với thiên tai. Theo ông Hùng, Kết luận 26-KL/TW đã xác định rõ hai quan điểm và bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm xử lý toàn diện các vấn đề của vùng.

Về phía Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bộ đã hoàn thành dự thảo lần thứ nhất Nghị quyết của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện kết luận này, dự kiến trình Chính phủ vào cuối tháng 5/2026. Đây là bước cụ thể hóa quan trọng, bởi để một định hướng lớn đi vào thực tế, các địa phương cần có chương trình hành động rõ ràng, phân công trách nhiệm, xác định nguồn lực và lộ trình ưu tiên.

Trong đầu tư công trình phòng, chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với Bộ Tài chính và các địa phương đề xuất 8 dự án trọng điểm trong kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026-2030. Trong đó có hệ thống công trình kiểm soát, điều tiết nguồn nước vùng phía Nam Quốc lộ 1A; dự án chống ngập úng, sạt lở và thích ứng biến đổi khí hậu cho thành phố Cần Thơ. Những dự án này nếu được triển khai đồng bộ sẽ góp phần nâng khả năng kiểm soát nguồn nước, giảm rủi ro thiên tai và hỗ trợ sản xuất ổn định hơn trong điều kiện khí hậu biến động.

Không thể “sạt lở đến đâu làm kè đến đó”

Qua thực tế kiểm tra, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nêu quan điểm Đồng bằng sông Cửu Long không thể tiếp tục xử lý theo kiểu “sạt lở đến đâu làm kè đến đó” hay “sụt lún ở đâu đắp đập ở đó”. Cách làm này có thể giải quyết tình huống cấp bách trước mắt, nhưng khó xử lý tận gốc khi nguyên nhân liên quan đến dòng chảy, khai thác tài nguyên, phát triển hạ tầng, phân bố dân cư và biến đổi khí hậu trên phạm vi rộng.

Theo ông Hiệp, cần tiếp cận theo hướng liên vùng, liên tỉnh và tổng thể liên ngành. Đây là điểm mấu chốt đối với Đồng bằng sông Cửu Long, bởi một công trình, một tuyến kè, một hoạt động khai thác hay một thay đổi về điều tiết nước ở địa phương này có thể tác động đến địa phương khác. Quản lý thiên tai trong vùng vì vậy không thể tách rời quản lý tài nguyên nước, khai thác cát lòng sông, khai thác nước ngầm, quy hoạch xây dựng ven sông, ven biển và tổ chức không gian sản xuất.

Tinh thần chủ động thích ứng cũng đang được một số địa phương vận dụng linh hoạt. Tại Vĩnh Long, lãnh đạo tỉnh cho hay khu vực Cồn Thanh Long tại xã Quới Thiện thường xuyên xảy ra sạt lở nguy hiểm, đồng thời có nhu cầu khai thác cát từ cồn để phục vụ san lấp các công trình hạ tầng. Hiện khu vực này chỉ còn 6 hộ dân sinh sống. Nếu đầu tư công trình bảo vệ cồn, kinh phí có thể lên tới khoảng 150 tỷ đồng nhưng hiệu quả không cao. Vì vậy, địa phương đề xuất phương án di dời các hộ dân tại Cồn Thanh Long, đồng thời khai thác cát từ cồn để phục vụ san lấp các công trình hạ tầng.

Trường hợp này cho thấy cách tiếp cận mới không chỉ là xây thêm công trình, mà là cân nhắc giữa chi phí, hiệu quả, mức độ an toàn của người dân và nhu cầu phát triển hạ tầng. Trong những khu vực nguy cơ cao, di dời dân cư có thể là giải pháp phù hợp hơn so với cố giữ bằng mọi giá, nhất là khi việc bảo vệ một điểm sạt lở đơn lẻ không tạo ra hiệu quả lâu dài cho toàn hệ thống.

Khoa học công nghệ, dữ liệu và cảnh báo sớm giữ vai trò then chốt

Để triển khai hiệu quả Kết luận số 26-KL/TW, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng đề nghị các tỉnh, thành phố khẩn trương quán triệt, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp thực tiễn. Các địa phương cần linh hoạt trong quản lý tài nguyên nước, khai thác cát lòng sông, khai thác nước ngầm và quản lý xây dựng ven sông, ven biển trên tinh thần thích ứng, hiệu quả.

Một yêu cầu quan trọng là ưu tiên bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân. Muốn vậy, các địa phương phải rà soát, cung cấp số liệu chính xác về các khu vực có nguy cơ sạt lở, sụt lún, hạn hán, xâm nhập mặn và nhu cầu di dời dân cư khỏi vùng nguy hiểm. Dữ liệu đúng, đủ và cập nhật là nền tảng để dự báo chính xác hơn, cảnh báo sớm hơn và quyết định đầu tư hợp lý hơn.

Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhấn mạnh việc tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông phục vụ quản lý, dự báo và cảnh báo sớm thiên tai theo Kết luận số 26. Tinh thần này phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược, giữ vai trò quyết định trong nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo định hướng đó, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ cao, tích hợp trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số trong quản lý, dự báo, cảnh báo, giám sát, hỗ trợ điều tra, đánh giá tác động, xây dựng cơ chế, chính sách, ra quyết định đầu tư, điều tiết theo thời gian thực các công trình phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn. Việc ưu tiên đầu tư trang thiết bị, công nghệ và mô hình dự báo sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy của cảnh báo sớm.

Các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mô hình dự báo thời gian thực có thể hỗ trợ phân tích xu hướng sạt lở, sụt lún, xâm nhập mặn; đồng thời giúp cơ quan quản lý đánh giá tác động của từng phương án công trình hoặc phi công trình. Khi thông tin được kết nối liên thông, quyết định điều tiết nguồn nước, cảnh báo dân cư, bố trí mùa vụ hay ưu tiên đầu tư sẽ có cơ sở khoa học hơn.

Chuyển đổi mô hình sản xuất để xanh hóa vựa lúa

Bên cạnh các công trình hạ tầng, Kết luận 26-KL/TW đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giải pháp phi công trình và chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế thích ứng với biến đổi khí hậu. Với một vùng mà sản xuất nông nghiệp gắn chặt với nước, đất và hệ sinh thái, thích ứng không chỉ là chống thiên tai, mà còn là tổ chức lại cây trồng, vật nuôi, mùa vụ và sinh kế theo điều kiện tự nhiên đang thay đổi.

Các địa phương cần thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên; phát triển mô hình nông - thủy sản thích ứng với hạn mặn; sử dụng giống cây trồng, vật nuôi ít tiêu tốn nước và giảm phát thải. Đây là hướng đi gắn trực tiếp với mục tiêu xanh hóa vùng sản xuất lúa gạo trọng điểm, giúp giảm áp lực lên tài nguyên nước, tăng khả năng chống chịu của nông hộ và nâng chất lượng tăng trưởng nông nghiệp.

Việc bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven biển cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng khả năng chống chịu thiên tai, bảo vệ bờ biển và khai thác hiệu quả nguồn lực từ tín chỉ carbon. Rừng ngập mặn không chỉ là lá chắn tự nhiên trước sóng gió, sạt lở, mà còn là không gian sinh thái gắn với thủy sản, đa dạng sinh học và sinh kế ven biển.

Một giải pháp đáng chú ý khác là nghiên cứu sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu thân thiện môi trường để thay thế cát lòng sông trong xây dựng. Nếu được triển khai hiệu quả, hướng đi này có thể góp phần giảm áp lực khai thác tài nguyên tự nhiên, qua đó hỗ trợ mục tiêu hạn chế sạt lở, bảo vệ lòng dẫn và ổn định hệ thống sông ngòi.

Hoàn thiện chính sách, bảo đảm nguồn lực cho phát triển bền vững

Kết luận 26-KL/TW đặt mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến tài nguyên nước, thủy lợi, đất đai, khoáng sản, khí tượng thuỷ văn trong năm 2027. Đây là điều kiện cần để tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý, nhất là trong bối cảnh các vấn đề của Đồng bằng sông Cửu Long thường đan xen giữa nhiều ngành, nhiều địa phương và nhiều cấp quản lý.

Song song với hoàn thiện chính sách là yêu cầu ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước, vốn vay và viện trợ nước ngoài cho các nhiệm vụ phòng chống sụt lún, sạt lở, hạn hán và xâm nhập mặn. Kết luận cũng khuyến khích đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP, qua đó mở rộng nguồn lực xã hội cho các dự án cần vốn lớn, thời gian triển khai dài và có tác động rộng đến an toàn dân cư, sản xuất và hạ tầng.

Các chuyên gia nhận định, với vai trò là vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng 95% lượng gạo xuất khẩu và phần lớn sản lượng thủy sản của cả nước, Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn giữ vị trí đặc biệt đối với an ninh lương thực quốc gia. Mọi biến động lớn tại vùng này đều có thể tác động đến chuỗi cung ứng nông sản, thu nhập của nông dân và khả năng ổn định thị trường lương thực.

Vì vậy, xây dựng các giải pháp tổng thể, dài hạn và có tính liên kết vùng để ứng phó biến đổi khí hậu là nhiệm vụ cấp thiết. Chuyển từ “ứng phó bị động” sang “chủ động thích ứng” không chỉ nhằm bảo vệ sinh kế cho hàng chục triệu người dân, mà còn là nền tảng để xanh hóa vựa lúa số 1 Việt Nam, bảo đảm phát triển bền vững cho Đồng bằng sông Cửu Long và cho cả đất nước trong tương lai.

Chưa có đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Hoàng Văn Đức

Cây bút quen thuộc của ngành cao su từ 2017. Theo dõi giá SVR, thị trường Trung Quốc và xu hướng đa dạng hoá sản phẩm.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Bình luận sẽ hiển thị sau khi quản trị viên duyệt.

để gửi bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên đóng góp ý kiến.