Thị trường lúa gạo cuối tuần tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục trong trạng thái ít biến động. Giá lúa tươi, gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ nhìn chung giữ ở mặt bằng vững, trong khi hoạt động mua bán chưa thật sự sôi động do cả người bán và người mua đều thận trọng quan sát diễn biến giá.
Ở chiều quốc tế, thị trường gạo thế giới vẫn chịu ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị tại Tây Á. Chi phí vận chuyển tăng mạnh đang tác động trực tiếp đến xuất khẩu gạo của Ấn Độ. Với Việt Nam, xuất khẩu gạo 4 tháng đầu năm 2026 giảm nhẹ về lượng nhưng giảm mạnh hơn về kim ngạch do giá xuất khẩu bình quân đi xuống.
Giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long giữ mặt bằng cao
Theo cập nhật của Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương (VITIC) từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi ngày 30/5 tại khu vực này nhìn chung ổn định. Lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) cùng ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg.
Ở nhóm lúa có mức giá thấp hơn, lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg. Mặt bằng này cho thấy giá lúa vẫn được giữ khá chắc, nhất là với các giống có chất lượng và nhu cầu thị trường ổn định.
Tại các địa phương trong vùng, giao dịch mua bán lúa tươi Hè Thu sớm có dấu hiệu khởi sắc nhưng chưa bứt lên mạnh. Tại An Giang, nguồn lúa Hè Thu đã bắt đầu chào bán, nông dân có xu hướng neo giá cao. Tuy nhiên, bạn hàng mua vào còn ít do tâm lý dò giá, khiến giá lúa không biến động nhiều. Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch lúa Hè Thu vẫn ít, song giá tiếp tục vững.
Gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ đi ngang, nếp bình ổn
Với mặt hàng gạo, giá gạo thành phẩm IR 504 hôm nay dao động ở 10.750 - 10.900 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 9.000 - 9.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 ở mức 8.400 - 8.550 đồng/kg.
Các chủng loại gạo nguyên liệu khác cũng không ghi nhận biến động đáng kể. Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm cùng dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Gạo Nàng Nhen hiện có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg.
Ở nhóm phổ thông, giá gạo thường dao động 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động 16.000 - 17.000 đồng/kg. Gạo Sóc Thái giữ giá 20.000 đồng/kg, trong khi gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg. Phân khúc nếp tiếp tục bình ổn, với nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg và nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam duy trì nhiều mức chào bán
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau tùy chủng loại. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 528 - 532 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 505 - 520 USD/tấn, còn gạo thơm 100% tấm dao động từ 337 - 341 USD/tấn.
So với các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, giá chào bán có sự phân hóa đáng kể. Trên thị trường thế giới, gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 440 - 444 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động quanh mốc 415 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 342 - 346 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm chào bán 280 - 284 USD/tấn.
Căng thẳng địa chính trị leo thang tại Tây Á đang tạo thêm sức ép đối với ngành xuất khẩu nông sản chủ lực của Ấn Độ. Theo số liệu từ Liên đoàn các nhà xuất khẩu gạo Ấn Độ, kim ngạch xuất khẩu gạo của nước này trong tháng 4 đã giảm 6% so với cùng kỳ năm ngoái, lùi về mức 1,01 tỷ USD. Nguyên nhân được nhắc đến là chi phí vận chuyển tăng mạnh, làm giảm sức cạnh tranh và ảnh hưởng đến dòng hàng xuất khẩu.
Xuất khẩu gạo Việt Nam giảm kim ngạch, nhưng thị trường chủ lực vẫn tích cực
Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan cho thấy, trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 3,37 triệu tấn, tương đương 1,58 tỷ USD. Kết quả này giảm 1,59% về lượng và giảm 10,49% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 468 USD/tấn, thấp hơn cùng kỳ năm trước.
Khu vực thị trường thuộc FTA RCEP tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Việt Nam, với 2,51 triệu tấn, trị giá 1,13 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, khu vực này tăng 20,37% về lượng và tăng 8,38% về kim ngạch. Riêng khu vực Đông Nam Á đạt 1,93 triệu tấn, tương đương 843 triệu USD, tăng 12,84% về lượng nhưng giảm 1,3% về kim ngạch.
Philippines tiếp tục là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026. Lượng gạo xuất sang thị trường này đạt 1,69 triệu tấn, tương đương 740,48 triệu USD, tăng 13,62% về lượng và tăng 1,24% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, chiếm gần 47% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước.
Trung Quốc (Đại lục) đứng thứ hai với 562.882 tấn, trị giá 280,96 triệu USD, tăng mạnh 55,67% về lượng và tăng 53,82% về kim ngạch. Ghana đứng thứ ba với 233.063 tấn, tương đương 118,13 triệu USD, nhưng giảm 23,41% về lượng và giảm 32,48% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Một số thị trường khác có xu hướng giảm rõ rệt. Bờ Biển Ngà đạt 225.520 tấn, tương đương 89,23 triệu USD, giảm mạnh 48,8% về lượng và giảm 57,6% về kim ngạch. Ngược lại, Malaysia nhập khẩu 181.470 tấn gạo từ Việt Nam, trị giá 73,45 triệu USD, tăng 34,27% về lượng và tăng nhẹ 0,53% về kim ngạch.
Trong nhóm thị trường tăng trưởng mạnh, Mozambique đạt 34.437 tấn, trị giá 16,92 triệu USD, tăng 37,07% về lượng và tăng 10,48% về kim ngạch. Ả Rập Xê Út đạt 16.048 tấn, tương đương 9,34 triệu USD, tăng 54,74% về lượng và tăng 30,9% về kim ngạch. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Iraq tăng đột biến lên 25.250 tấn, tương đương 13,88 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường giảm mạnh. Indonesia chỉ đạt 4.386 tấn, giảm 73,17% về lượng và giảm 74,16% về kim ngạch. Senegal giảm tới 98,08% về lượng và 97,34% về kim ngạch; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 92,8% về lượng và giảm 93,16% về kim ngạch. Xuất khẩu sang Bangladesh cũng giảm rất mạnh, tới 99,83% về lượng.
Đối với các thị trường thuộc CPTPP, xuất khẩu gạo đạt 242.443 tấn, tương đương 106,59 triệu USD, tăng 18,33% về lượng nhưng giảm 8,47% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu sang thị trường EU đạt 8.803 tấn, trị giá 6,72 triệu USD, giảm 22,54% về lượng và giảm 24,07% về kim ngạch.
Xét theo các khu vực hiệp định thương mại, xuất khẩu sang thị trường FTA RCEP đạt 2,51 triệu tấn, tương đương 1,13 tỷ USD, tăng 20,37% về lượng và tăng 8,38% về kim ngạch. Xuất khẩu sang thị trường FTA CPTPP đạt 242.443 tấn, tương đương 106,59 triệu USD, tăng 18,33% về lượng nhưng giảm 8,47% về kim ngạch. Trong khi đó, xuất khẩu sang thị trường EVFTA đạt 8.803 tấn, tương đương 6,72 triệu USD, giảm 22,54% về lượng và giảm 24,07% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo ngày 30/5 cho thấy giá trong nước vẫn neo ở mức vững dù giao dịch còn chậm. Với xuất khẩu, áp lực giảm giá bình quân khiến kim ngạch đi xuống mạnh hơn sản lượng, nhưng nhu cầu tại các thị trường chủ lực như Philippines và Trung Quốc vẫn là yếu tố hỗ trợ quan trọng cho gạo Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gia tăng.



