Lá trầu không là dược liệu quen thuộc trong đời sống dân gian, được sử dụng để hỗ trợ chữa cảm mạo, hàn thấp nhức mỏi, đau bụng đầy hơi và nhiều chứng bệnh ngoài da. Tuy nhiên, cũng như các vị thuốc có hoạt tính mạnh khác, việc dùng lá trầu cần đúng cách, đúng liều và không nên xem là phương pháp thay thế hoàn toàn cho thăm khám y tế.
Theo Bệnh viện y học cổ truyền Đà Nẵng, trầu không còn được biết đến với nhiều tên gọi như trầu cay, trầu lương, phù lưu đằng, lâu diệp. Đây là loài dây leo bám, cành hình trụ nhẵn, có khía dọc và thường bén rễ ở những mấu. Từ lâu, cây trầu không vừa gắn với nếp sinh hoạt truyền thống, vừa được ghi nhận trong nhiều kinh nghiệm chữa bệnh của y học cổ truyền.
Đặc điểm dược liệu lá trầu không
Lá trầu mọc so le, có hình tim tròn, gốc lá đôi khi hơi lệch, đầu nhọn. Phiến lá dài từ 10 đến 13cm, rộng từ 4.5 đến 9cm; hai mặt lá nhẵn, mặt trên sẫm bóng, gân nổi rất rõ ở mặt dưới. Cuống lá có bẹ kéo dài. Những đặc điểm này giúp nhận diện cây trầu trong tự nhiên, nhất là khi thu hái làm thuốc.
Bộ phận được dùng làm thuốc phổ biến nhất là lá. Lá trầu có thể thu hái quanh năm và thường được dùng tươi. Ngoài lá, rễ cây cũng được sử dụng làm dược liệu trong một số bài thuốc dân gian và y học cổ truyền. Việc dùng tươi giúp giữ được mùi thơm hắc đặc trưng, song cũng đòi hỏi khâu rửa sạch, lựa chọn lá không bị sâu bệnh, không dính hóa chất.
Trong Đông y, trầu không có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm, quy vào các kinh phế, tỳ, vị. Dược liệu này được ghi nhận có tác dụng trừ phong thấp, chống lạnh, hạ khí, tiêu đờm, tiêu viêm và sát trùng. Nhờ tính ấm và mùi thơm mạnh, trầu thường xuất hiện trong các bài thuốc liên quan đến cảm lạnh, đau bụng do lạnh, đờm nhiều hoặc một số tình trạng viêm nhiễm ngoài da.
Công dụng và cách dùng trong Đông y
Lá trầu không được dùng trong các trường hợp hàn thấp nhức mỏi, đau bụng đầy hơi, vết thương nhiễm trùng có mủ sưng đau, hen suyễn khi thời tiết thay đổi, đờm nhiều khó thở, cảm mạo, bỏng, mụn nhọt, hắc lào, mày đay, ghẻ ngứa, sâu kiến đốt, viêm quanh răng, viêm tai và viêm họng.
Cách dùng thông thường là sắc uống với liều từ 8 đến 16g một ngày. Khi dùng ngoài, có thể lấy lá trầu tươi giã nát, hoặc ngâm lá với nước để rửa vùng cần xử lý. Với các trường hợp có vết thương hở, nhiễm trùng, bỏng hoặc viêm nặng, người bệnh cần thận trọng, vì sử dụng không đúng cách có thể làm kích ứng da, làm chậm lành thương hoặc che lấp dấu hiệu bệnh cần điều trị.
Một số kinh nghiệm phối hợp được ghi nhận khá cụ thể. Lá trầu kết hợp cùng gừng sống, ép lấy nước uống, là bài thuốc trị ho, khó thở và đầy bụng. Nước ép lá trầu nhỏ vào tai được dùng trong bài thuốc chữa đau tai. Súc miệng hằng ngày với nước có dịch ép lá trầu có thể phòng bệnh viêm họng và hỗ trợ các thuốc điều trị bệnh bạch hầu. Lá trầu và lá ráy giã nhỏ, hơ nóng rồi đắp được dùng để chữa sưng tấy.
Một bài thuốc khác dùng trầu không từ 3 đến 5 lá, hạt cau 1 hạt, phơi khô, tán bột rồi rắc làm thuốc cầm máu. Với đau bụng lạnh dạ, tiêu chảy, nôn mửa, không tiêu, có thể dùng lá trầu từ 2 đến 4g, nhai rồi nuốt nước. Lá vò đắp được dùng chữa hắc lào, mày đay, ghẻ ngứa, sâu kiến đốt; nếu giã nát hòa với rượu bôi thì được dùng chữa bỏng. Phụ nữ có thai được khuyên không nên dùng bài thuốc này.
Bài thuốc dân gian từ lá trầu không
Trong y học dân gian, lá trầu không có mặt trong nhiều bài thuốc dùng ngoài và dùng trong. Với cảm mạo, lá trầu được dùng để đánh gió, xát ở xương sống từ trên xuống dưới. Cách làm này dựa trên quan niệm dùng tính ấm, mùi thơm và tác dụng làm ấm cơ thể của trầu trong trường hợp cảm lạnh.
Đối với vết thương, có hai bài thuốc được nhắc đến. Bài thứ nhất gồm lá trầu, lá thanh táo, lá cỏ răng cưa với lượng bằng nhau, giã nát rồi đắp. Bài thứ hai dùng lá trầu tươi 40g rửa sạch, đun với 2 lít nước sôi trong từ 15 đến 20 phút. Sau khi để nguội, gạn lấy nước trong, cho phèn phi 8g vào đánh tan rồi dùng để rửa.
Với bỏng, lá trầu được phơi khô, tán bột, chiết xuất bằng phương pháp ngấm kiệt, cô thành cao đặc rồi pha với vaselin thành thuốc mỡ 1% để bôi hằng ngày. Với mụn nhọt, có thể dùng lá trầu, lá thồm lồm, hoa dâm bụt với lượng đều bằng nhau, giã nát rồi đắp. Những bài thuốc bôi, đắp này chỉ nên áp dụng khi có hướng dẫn phù hợp, đặc biệt nếu vùng da bị tổn thương rộng hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng.
Chữa tiểu rắt, bài thuốc dùng rễ trầu không hoặc thân, lá, kết hợp rễ cau, mỗi vị 10g; sắc uống ngày một thang, dùng vài ngày đến khi khỏi. Với viêm chân răng có mủ, lá trầu được nấu cao để bôi. Với sai khớp, bong gân, dùng lá trầu 12g, nghệ già 20g; lá cúc tần, lá xạ can, mỗi vị 12g. Tất cả giã nát, trộn với một ít giấm, bọc gạc đắp lên chỗ sưng đau, từ 2 đến 3 ngày thay băng một lần.
Một bài thuốc chữa vết thương, bỏng khác gồm lá trầu tươi, hành tươi, tỏi tươi, mỗi vị 300g; lá ớt tươi 200g, mật lợn 1 lít. Hành tỏi bỏ vỏ, cùng với trầu không và lá ớt giã nhỏ, cho nửa lít nước nấu kỹ, lọc từ 2 đến 3 lần, cô còn khoảng 300ml. Sau đó cho vào 1 kg đường đun thành cao lỏng, rồi cho mật lợn vào canh kỹ, đựng trong lọ kín, ngày bôi một lần.
Thuốc xoa bóp, còn gọi là đánh gió chống say nắng, dùng lá trầu già 5 lá, tóc rối 15g, dầu hỏa loại dầu trắng trong 5ml. Lá trầu được giã nát, trộn với dầu hỏa và tóc rối, gói vào vải mềm. Khi dùng, xát lên người theo chiều dọc cơ thể từ trên xuống, chủ yếu ở phần ngực bụng và thắt lưng. Do có dầu hỏa, bài thuốc này càng cần thận trọng, tránh vùng da trầy xước và không dùng tùy tiện.
Kinh nghiệm sử dụng ở một số nước và khuyến cáo an toàn
Không chỉ ở Việt Nam, trầu không còn được dùng trong y học cổ truyền tại một số nước. Ở Ấn Độ, lá và tinh dầu trầu được dùng để điều trị các bệnh xuất tiết, bệnh phổi, đồng thời làm thuốc đắp, thuốc súc miệng và thuốc ngửi trong bệnh bạch hầu. Lá trầu cũng có trong thành phần chế phẩm thuốc cổ truyền Ấn Độ phối hợp với một số vị thuốc khác để trị hen phế quản.
Thuốc hoàn bào chế từ rễ trầu không, thủy xương bồ và sen được dùng trong 10 ngày liền từ ngày đầu hành kinh để điều trị đau bụng kinh. Ở Indonesia, lá trầu nghiền nát có trong thành phần một số thuốc đặt âm đạo mà phụ nữ thường dùng từ 4 đến 11 ngày sau khi sinh con. Những ghi nhận này cho thấy phạm vi ứng dụng của trầu khá rộng, nhưng cũng nhấn mạnh yêu cầu phải dùng theo bối cảnh y học và chỉ dẫn chuyên môn.
Uống nước lá trầu không không gây hại nếu dùng đúng cách, có thể hỗ trợ tiêu hóa và giảm viêm. Tuy vậy, lạm dụng hoặc dùng lâu dài có thể gây kích ứng niêm mạc, đau dạ dày, táo bón, thậm chí tăng nguy cơ tổn thương miệng và thực quản. Đây là điểm đặc biệt cần lưu ý vì nhiều người có xu hướng xem dược liệu dân gian là an toàn tuyệt đối.
Trầu không mang lại nhiều lợi ích, nhưng để đạt được tác dụng mong muốn, cần sử dụng với liều lượng và cách thức hợp lý. Người dân không nên tự ý dùng để hỗ trợ điều trị bệnh, nhất là với bệnh mạn tính, phụ nữ có thai, trẻ nhỏ hoặc người đang dùng thuốc điều trị. Cách an toàn nhất là tham khảo ý kiến bác sĩ, thầy thuốc y học cổ truyền hoặc người có chuyên môn.
Ngoài ra, nếu sử dụng quá nhiều lá trầu, người dùng có thể gặp một số tác dụng phụ như dị ứng, nướu bị kích thích, cứng hàm, loét miệng, thậm chí là ung thư miệng và thực quản. Vì vậy, lá trầu không nên được nhìn nhận như một dược liệu có giá trị, nhưng cần dùng thận trọng, đúng liều, đúng mục đích và không lạm dụng.



