Những năm gần đây, phong trào nuôi cá lồng bè trên biển tại Tiểu khu An Sơn và Tiểu khu Nam Du, thuộc đặc khu Kiên Hải, tỉnh An Giang, đã trở thành một hướng đi nổi bật trong phát triển kinh tế biển. Đây là khu vực thuộc địa phận quần đảo An Sơn, đảo Nam Du, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang cũ, nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để hình thành các vùng nuôi thủy sản trên biển.
Từ những lồng bè nằm giữa sóng nước, nhiều hộ dân đã tạo dựng sinh kế ổn định, từng bước làm giàu bằng các loài cá có giá trị kinh tế cao. Song phía sau những vụ cá bớp, cá mú, cá chuột cho doanh thu lớn là câu chuyện về vốn đầu tư nặng, kỹ thuật nuôi khắt khe, rủi ro thiên tai, dịch bệnh và nhu cầu cấp thiết về liên kết tiêu thụ.
Lợi thế biển đảo mở hướng đi mới cho người dân Kiên Hải
Đặc khu Kiên Hải sở hữu nhiều hòn đảo lớn nhỏ đan xen, tạo nên các vùng vịnh kín gió, nước sâu. Đây là lợi thế quan trọng để phát triển nghề nuôi biển, nhất là mô hình nuôi cá lồng bè. Trong bối cảnh nguồn lợi khai thác tự nhiên ngày càng chịu sức ép, việc chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng thủy sản ven biển và quanh đảo được xem là hướng đi phù hợp, giúp người dân có thêm sinh kế dài hạn.
Tuy nhiên, để biến lợi thế thiên nhiên thành nguồn thu bền vững không phải là chuyện dễ dàng. Nghề nuôi cá lồng bè trên biển đòi hỏi người nuôi phải có vốn lớn, am hiểu kỹ thuật, thường xuyên theo dõi môi trường nước, sức khỏe đàn cá và chủ động ứng phó với mưa bão. Chỉ một sơ suất nhỏ trong khâu chăm sóc, phòng bệnh hoặc quản lý lồng bè cũng có thể khiến người nuôi thiệt hại nặng.
Chính vì vậy, thành công của những hộ bám biển ở Nam Du không chỉ đến từ may mắn, mà còn là kết quả của quá trình học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và chấp nhận rủi ro để theo đuổi nghề. Với họ, mỗi lồng bè không đơn thuần là tài sản, mà là nơi gửi gắm cả vốn liếng, công sức và hy vọng đổi đời.
Từ lần ra đảo thăm người thân đến cơ ngơi 7 bè nuôi cá bớp
Ông Nguyễn Phước Hạnh, 48 tuổi, quê gốc xã Châu Phú, tỉnh An Giang, là một trong những hộ đang gắn bó với nghề nuôi cá lồng bè ở Nam Du. Trước khi ra đảo lập nghiệp, ông làm nghề mua bán ở đất liền. Cơ duyên đến với nghề nuôi biển bắt đầu từ một lần ông ra thăm người dượng, thấy mô hình nuôi cá lồng bè hiệu quả nên tìm hiểu, học hỏi rồi làm theo.
Nhớ lại những ngày đầu, ông Hạnh cho biết nghề này nhìn qua tưởng thuận lợi nhưng khi bắt tay vào mới thấy rất nhiều thử thách. Người nuôi phải đối mặt với rủi ro từ nguồn nước, dịch bệnh, thiên tai, bão gió. Nếu thiếu kinh nghiệm hoặc chủ quan, việc mất trắng vốn đầu tư là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Đầu năm 2024, với quyết tâm làm giàu, ông Hạnh thế chấp miếng đất ở quê nhà, thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang trước đây, để vay vốn đầu tư nuôi cá lồng bè trên biển. Có tiền trong tay, ông dồn vào đóng bè, mua cá bớp giống và thức ăn. Giai đoạn đầu, do chưa nắm vững kỹ thuật nuôi biển, cá hao hụt đến 70%. Dù vậy, ông không bỏ cuộc mà vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
Đến nay, ông Hạnh đã có 7 bè nuôi, mỗi bè rộng 121m2. Theo ông, chi phí nuôi cá bè rất lớn, trong đó tiền thức ăn là áp lực thường trực. Giá cá mồi, tức thức ăn cho cá, đã tăng từ 11.000 đồng/kg vào tháng 5/2025 lên 16.000 đồng/kg ở thời điểm hiện tại. Dù chi phí biến động, nhờ tuân thủ quy trình kỹ thuật, cá bớp sau 8 đến 12 tháng thả nuôi của ông đạt trọng lượng từ 5 đến 10kg/con.
Hiện giá cá bớp dao động từ 170.000 đến 180.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, mỗi vụ cá ông Hạnh thu lợi nhuận khoảng 200 đến 300 triệu đồng. Những năm thuận lợi, khi vừa trúng cá vừa trúng giá, thu nhập có thể vượt hơn tỷ đồng. Đây là kết quả cho thấy nghề nuôi cá lồng bè, nếu được đầu tư đúng cách và quản lý tốt rủi ro, có thể mang lại giá trị kinh tế đáng kể cho người dân vùng đảo.
Bám bè nơi đầu sóng, nuôi con ăn học từ nghề cá biển
Cách khu bè của ông Hạnh không xa là khu vực nuôi trồng của bà Nguyễn Thị Hoa. Bà Hoa rời quê hương Thanh Hóa vào Nam lập nghiệp đã 21 năm, trong đó có 10 năm bám trụ ở Hòn Sơn và 11 năm gắn bó với sóng nước Nam Du. Hiện gia đình bà sở hữu 4 lồng bè, nuôi nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao như cá sao, cá chuột, cá trâu, cá bống mú, cá bớp.
Với quy mô nuôi hiện tại, mỗi ngày chi phí thức ăn cho cá của gia đình bà Hoa lên tới 4 đến 5 triệu đồng. Để giảm áp lực vốn và tạo dòng tiền xoay vòng, bà chọn cách thả nuôi nhiều loại cá, chia thành nhiều đợt khác nhau. Cứ khoảng 2 tháng một lần, bà tuyển chọn từ 150 đến 200 con cá mú, cá chuột đến tuổi xuất bán.
Mỗi đợt bán cá như vậy, gia đình bà Hoa thu về khoảng 200 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, khoản lãi ròng đạt khoảng 100 triệu đồng. Nguồn thu từ nghề nuôi cá lồng bè đã giúp bà nuôi nấng 3 người con ăn học thành tài, hiện đều là giáo viên các cấp; người con trai út cũng chuẩn bị bước vào lớp 12.
Bà Hoa chia sẻ, nghề nuôi cá lồng bè rất vất vả, vốn đầu tư lớn và buộc người nuôi phải thường xuyên bám bè. Khi thấy cá có dấu hiệu chớm bệnh, phải xử lý kịp thời để tránh lây lan và thiệt hại. Nhờ kiên trì, chịu khó và gặp thuận lợi trong nhiều vụ nuôi, gia đình bà có cuộc sống ổn định hơn, thậm chí mua được nhà cửa khang trang trong đất liền.
Hơn 200 hộ nuôi cá lồng bè và bài toán vốn tín dụng
Những câu chuyện như ông Hạnh, bà Hoa không còn là trường hợp đơn lẻ tại Kiên Hải. Theo số liệu từ UBND đặc khu Kiên Hải, đến nay địa phương có trên 200 hộ nuôi cá lồng bè với gần 1.200 lồng bè, sản lượng trung bình hằng năm đạt khoảng 1.200 tấn. Con số này cho thấy nuôi cá biển lồng bè đã trở thành một ngành nghề quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân vùng đảo.
Sự phát triển của nghề nuôi biển tại Kiên Hải cũng phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong bối cảnh ngư trường ngày càng cạn kiệt, nuôi trồng thủy sản trên biển không chỉ giúp giảm áp lực khai thác tự nhiên mà còn tạo thêm không gian phát triển cho kinh tế biển địa phương.
Ở cấp tỉnh, kế hoạch năm 2026 của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang đặt mục tiêu sản lượng nuôi biển đạt trên 133.000 tấn, trong đó cá lồng bè khoảng 20.000 tấn, nhuyễn thể hơn 113.000 tấn. Xa hơn, trong giai đoạn 2026 - 2030, ngành nông nghiệp tỉnh kỳ vọng tổng sản lượng thủy sản vượt hơn 9,2 triệu tấn, tăng 24,2% so với giai đoạn trước. Diện tích nuôi trồng dự kiến tăng 47,1%, còn sản lượng cá nuôi lồng bè tăng mạnh 46,1%.
Để đạt các mục tiêu này, ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, cho biết nhiều giải pháp đồng bộ đang được triển khai. Các nhóm giải pháp gồm quy hoạch vùng nuôi thích ứng thiên tai, mở rộng diện tích nuôi tôm sinh thái, hữu cơ dưới tán rừng ngập mặn, đầu tư nâng cấp hệ thống cảng cá, khu neo đậu và hạ tầng hậu cần nghề cá. Đáng chú ý, phát triển kinh tế biển cũng được định hướng gắn với du lịch sinh thái trải nghiệm, để các lồng bè nuôi cá có thể trở thành điểm dừng chân hấp dẫn du khách.
Dù triển vọng lớn, rào cản chủ yếu với người dân khi chuyển sang nuôi biển vẫn là vốn. Chi phí ban đầu cho hệ thống lồng bè kiên cố, chịu được sóng gió, cộng với tiền con giống và thức ăn, có thể lên tới hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng. Nếu thiếu nguồn tín dụng phù hợp, nhiều hộ khó có điều kiện đầu tư bài bản hoặc mở rộng sản xuất.
Trao đổi với phóng viên Dân Việt, ông Lâm Quốc Toàn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh An Giang, khẳng định nuôi cá lồng bè trên biển đòi hỏi chi phí đầu tư rất cao. Thời gian tới, Hội Nông dân sẽ tăng cường phối hợp với các ngành chức năng, đặc biệt là hệ thống ngân hàng như Agribank, để đẩy mạnh hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi cho bà con. Song song đó, Hội sẽ tháo gỡ điểm nghẽn bằng cách xây dựng các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, tìm kiếm đầu ra ổn định.
Theo ông Lâm Quốc Toàn, mục tiêu lớn nhất là để đồng vốn tín dụng khi đến tay người dân phát huy tối đa hiệu quả, giúp bà con yên tâm bám biển, bám đảo lập nghiệp và làm giàu chính đáng trên vùng biển quê hương. Với lợi thế tự nhiên sẵn có, kinh nghiệm thực tế của người nuôi và sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, thị trường, nghề nuôi cá lồng bè ở Nam Du có thêm cơ hội phát triển theo hướng bền vững hơn.



