Bỏ qua đến nội dung chính
Thứ Hai, ngày 25 tháng 5 năm 2026|

Khánh Hòa đưa nuôi biển công nghệ cao ra khơi, hướng tới trung tâm hiện đại

Tác giả: · Xuất bản:
Thủy sảnkhoảng 2 giờ trước5 lượt xem14 phút đọc
Khánh Hòa đưa nuôi biển công nghệ cao ra khơi, hướng tới trung tâm hiện đại
🎧 Nghe bài viết

Sở hữu bờ biển dài 490 km, cùng nhiều vịnh kín gió như Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang, Khánh Hòa đang có những điều kiện tự nhiên quan trọng để phát triển nuôi biển quy mô lớn. Từ một nghề gắn với lồng bè gỗ ven bờ và kinh nghiệm thủ công của ngư dân, nuôi biển tại địa phương đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ, lấy công nghệ cao, quản trị môi trường và sản xuất theo chuỗi làm nền tảng.

Quá trình này gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong bức tranh kinh tế biển của Khánh Hòa, nuôi trồng thủy sản đang nổi lên như lĩnh vực có sự thay đổi rõ nét: từ khai thác tiềm năng mặt nước ven bờ sang tổ chức lại không gian sản xuất, đưa lồng nuôi ra vùng biển rộng hơn, giảm áp lực môi trường và hướng tới ngành công nghiệp biển hiện đại.

Từ lồng bè gỗ ven bờ đến mô hình nuôi biển công nghiệp

Giữa vùng biển Vân Phong, những vòng lồng HDPE kích thước lớn nổi trên mặt nước đã trở thành hình ảnh tiêu biểu cho bước chuyển của nghề nuôi biển Khánh Hòa. Hệ thống cho ăn tự động vận hành dựa trên dữ liệu môi trường, camera theo dõi đàn cá hoạt động liên tục, nhiều khâu quản lý có thể được người nuôi điều khiển qua điện thoại. Cách làm này khác xa hình ảnh bè gỗ ken dày trong các vịnh kín trước đây, nơi nghề nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, lao động thủ công và quy mô hộ gia đình.

Ít ai nghĩ rằng những vùng biển đang được thí điểm nuôi biển công nghệ cao của Việt Nam từng là nơi phủ kín lồng bè gỗ, phao xốp và hoạt động nuôi tự phát từ những năm 90 của thế kỷ 20. Nghề nuôi biển khi đó phát triển nhanh, tạo sinh kế và góp phần nâng cao thu nhập cho hàng ngàn hộ dân ven biển. Sản lượng cũng tăng mạnh, từ gần 10.000 tấn năm 2020 lên vượt mốc 20.000 tấn vào năm 2025, tức tăng gấp đôi sau 5 năm.

Tuy nhiên, sự tăng trưởng theo phương thức cũ sớm bộc lộ giới hạn. Phần lớn hộ nuôi có quy mô nhỏ lẻ, sử dụng lồng bè gỗ không chịu được sóng gió lớn, tập trung ở vùng ven bờ và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước cục bộ. Khi mật độ nuôi dày, thức ăn thừa, chất thải của cá và vật liệu phao xốp, gỗ hư hỏng dễ tích tụ, làm suy giảm chất lượng nước, tăng rủi ro dịch bệnh và tạo áp lực lên không gian biển ven bờ.

Áp lực môi trường buộc nghề nuôi biển phải chuyển đổi

Ông Vũ Khắc Mười, hộ nuôi cá biển tại Đầm Bấy, Nha Trang, cho biết gia đình từng vận hành 60 ô lồng gỗ truyền thống tại đảo Trí Nguyên. Theo ông, về lâu dài, lồng gỗ dễ hư hỏng, mục nát, phát sinh rác thải gỗ và phao xốp trôi nổi, gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, thức ăn dư thừa và chất thải của cá tích tụ dưới đáy làm chất lượng nước giảm, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh.

Từ áp lực ô nhiễm, dịch bệnh và tình trạng quá tải mặt nước ven bờ, Khánh Hòa buộc phải lựa chọn con đường chuyển đổi. Đây không chỉ là việc thay lồng gỗ bằng lồng HDPE, mà còn là quá trình thay đổi tư duy sản xuất: chuyển dần từ nuôi ven bờ sang nuôi xa biển, từ hộ nhỏ lẻ sang liên kết sản xuất hiện đại, từ kinh nghiệm thủ công sang quản trị bằng dữ liệu, thiết bị và quy chuẩn kỹ thuật.

Sự chuyển động này có ý nghĩa lớn hơn một cuộc thay đổi vật liệu. Khánh Hòa đang hướng tới mục tiêu biến nuôi biển từ nghề mưu sinh truyền thống thành ngành kinh tế biển quy mô lớn, gắn với chiến lược phát triển bền vững kinh tế đại dương. Khi lồng nuôi có khả năng chịu lực tốt hơn, kiểm soát môi trường tốt hơn và vận hành hiệu quả hơn, nghề nuôi biển mới có cơ hội vươn ra vùng nước mở, giảm xung đột không gian ven bờ và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản.

Nền tảng công nghệ được chuẩn bị qua nhiều giai đoạn

Ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa, cho biết sự chuyển dịch công nghệ tại địa phương không phải mới bắt đầu, mà đã có sự dẫn dắt và chuẩn bị từ sớm của doanh nghiệp, viện nghiên cứu qua nhiều giai đoạn. Từ năm 2000, Công ty TNHH Ngọc Trai đã thử nghiệm lồng tròn HDPE tại xã Đại Lãnh. Đến năm 2006, Công ty Marine Farms ASA Việt Nam và Công ty Thủy sản Australis Việt Nam tiếp tục đầu tư hệ thống lồng HDPE quy mô công nghiệp tại vịnh Vân Phong.

Nhằm tạo cơ sở thực tiễn để nhân rộng, năm 2013, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam triển khai thành công mô hình trình diễn nuôi công nghiệp. Những thử nghiệm và mô hình này giúp Khánh Hòa có thêm dữ liệu thực tế về khả năng chống chịu của vật liệu, hiệu quả quản lý đàn cá, năng suất, chi phí vận hành và điều kiện kỹ thuật khi chuyển từ lồng bè truyền thống sang nuôi biển công nghệ cao.

Định hướng chuyển đổi tiếp tục được cụ thể hóa ở cấp chính sách. Ngày 9/10/2024, UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành Kế hoạch số 11346/KH-UBND nhằm mở rộng thí điểm nuôi biển công nghệ cao. Đặc biệt, Đề án thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao tại Khánh Hòa đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 24/1/2025. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương đẩy nhanh quá trình tổ chức lại vùng nuôi, thu hút nguồn lực xã hội và hoàn thiện mô hình sản xuất phù hợp.

Hiệu quả bước đầu từ lồng HDPE và các vùng nuôi quy mô lớn

Qua triển khai thí điểm, các mô hình nuôi biển công nghệ cao tại Khánh Hòa cho thấy ưu thế rõ rệt của lồng vật liệu HDPE kích thước lớn so với bè gỗ, nhất là khả năng vươn khơi đối với nuôi cá biển. Lồng HDPE có khả năng chịu sóng gió tốt hơn, phù hợp hơn với các vùng biển mở, đồng thời giúp giảm lượng rác thải từ gỗ mục và phao xốp. Khi kết hợp với hệ thống giám sát, cho ăn và quản lý môi trường, mô hình nuôi có điều kiện tiến tới sản xuất ổn định, quy mô lớn hơn.

Khánh Hòa đã hình thành một số vùng nuôi công nghệ cao đáng chú ý. Trong đó có vùng nuôi cá chẽm xa bờ trên diện tích 384 ha, sản lượng đạt 250–300 tấn/lồng của Công ty Australis Việt Nam. Trung tâm nuôi biển công nghệ cao thuộc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam có 42 lồng nuôi cá chim vây vàng, cho sản lượng 150–200 tấn/năm. Những mô hình này cho thấy vai trò của doanh nghiệp và đơn vị nghiên cứu trong việc mở đường cho nghề nuôi biển công nghiệp.

Không chỉ ở quy mô doanh nghiệp, mô hình của 5 hộ dân nuôi 10 lồng cá chim vây vàng, thể tích 800 m3/lồng, tại khu vực Đầm Bấy, Nha Trang, cũng là minh chứng rõ nét về hiệu quả đối với kinh tế hộ. Kết quả đợt đầu đạt tổng sản lượng 36,5 tấn; tỷ lệ sống của cá đạt trên 85%, cá sinh trưởng nhanh và hệ số tiêu tốn thức ăn thấp hơn hẳn so với lồng bè truyền thống. Sau khi trừ chi phí và khấu hao, mô hình mang lại lợi nhuận ròng khoảng 1,7 tỷ đồng, bình quân mỗi lồng giúp ngư dân thu hơn 485 triệu đồng một chu kỳ.

Cùng với kết quả sản xuất, công tác huy động nguồn lực xã hội hóa cũng ghi nhận tín hiệu tích cực. Giai đoạn 2023-2024, Quỹ Thiện Tâm, Tập đoàn Vingroup, đã hỗ trợ 10 hộ dân tại vịnh Cam Ranh ứng dụng công nghệ cao. Năm 2025, chương trình dự kiến hỗ trợ thêm 70 hộ; đến nay đã có 50 hộ đăng ký và 30 hộ hoàn thành lắp đặt lồng HDPE để đưa vào sản xuất. Đây là nguồn lực quan trọng trong bối cảnh chi phí chuyển đổi sang vật liệu mới còn cao đối với nhiều hộ nuôi.

Những rào cản lớn trên đường ra biển mở

Dù đạt kết quả khả quan, ông Nguyễn Duy Quang nhận định nuôi biển Khánh Hòa vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những điểm nghẽn là địa phương chưa chủ động sản xuất nhân tạo được con giống cho một số loài như tôm hùm, cá mú cọp. Việc phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên hoặc nhập khẩu làm tăng chi phí đầu vào, khiến người nuôi khó kiểm soát hoàn toàn rủi ro về giá, chất lượng và nguồn cung.

Biến đổi khí hậu cũng khiến thiên tai trở nên khắc nghiệt hơn. Tần suất bão đổ bộ vào tỉnh tăng về cường độ, thời tiết nắng nóng kéo dài gây bất lợi cho thủy sản. Khi dịch chuyển ra vùng biển mở từ 3 đến 6 hải lý, chi phí logistics tăng cao do quãng đường vận chuyển vật tư dài hơn, điều kiện sóng gió phức tạp hơn, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Trong khi đó, nuôi biển công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi dài, nhưng sự tham gia của doanh nghiệp quy mô lớn vẫn còn khiêm tốn.

Một rào cản khác là hạ tầng phục vụ riêng cho nuôi biển tập trung gần như chưa có. Hệ thống phao tiêu, biển báo vùng nuôi chưa được đầu tư đồng bộ, trong khi các vùng nuôi xa bờ cần điểm neo đậu, mốc ranh giới, hậu cần, dịch vụ kỹ thuật và an toàn lao động tốt hơn. Nếu thiếu hạ tầng, quá trình đưa lồng nuôi ra xa bờ sẽ khó nhân rộng, bởi hộ dân không chỉ cần lồng bền hơn mà còn cần cả một hệ sinh thái hỗ trợ sản xuất.

Người nuôi cần thị trường, quy hoạch và truy xuất nguồn gốc

Ở góc độ hợp tác xã, ông Nguyễn Xuân Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Nuôi biển công nghệ cao Vạn Ninh, cho biết trước đây bà con chủ yếu tập trung nuôi tôm hùm, trong khi đầu ra còn bấp bênh. Thời gian gần đây, nhiều ngư dân đã chủ động đa dạng hóa đối tượng nuôi bằng cách chuyển sang các loại cá biển như cá chim, cá mú. Sự chuyển dịch này giúp ổn định sinh kế, giải quyết việc làm và mở ra hướng phát triển kinh tế mới, nâng cao thu nhập cho người dân.

Tuy vậy, khó khăn lớn nhất hiện nay là thị trường xuất khẩu thiếu ổn định, gây trở ngại cho việc dự báo triển vọng dài hạn. Để hướng tới xuất khẩu bền vững, ông Nguyễn Xuân Hòa cho rằng cơ quan chức năng cần sớm quy hoạch vùng nuôi, mặt nước đạt chuẩn và xây dựng hồ sơ truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Đây là điều kiện cần thiết để sản phẩm nuôi biển đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là khi ngành thủy sản ngày càng chịu sức ép về minh bạch, an toàn và trách nhiệm môi trường.

Bên cạnh đó, xu hướng chuyển đổi từ lồng gỗ sang lồng HDPE được xem là tất yếu, nhưng chi phí đầu tư quá cao vẫn là rào cản lớn khiến người dân chưa thể nhân rộng đồng loạt. Với nhiều hộ nuôi, một mô hình mới chỉ có thể bền vững khi đi kèm cơ chế hỗ trợ phù hợp, tín dụng dễ tiếp cận, bảo hiểm rủi ro và đầu ra ổn định. Điều này cho thấy chuyển đổi công nghệ không thể tách rời bài toán tổ chức sản xuất và thị trường.

Chính sách hỗ trợ và mục tiêu xây dựng hạ tầng vùng nuôi

Để từng bước tháo gỡ khó khăn, tiến tới xây dựng ngành nuôi biển Khánh Hòa hiện đại, an toàn và bền vững, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Duy Quang cho biết tỉnh đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Về hạ tầng, UBND tỉnh đã có Tờ trình số 2081/TTr-UBND gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề nghị Trung ương hỗ trợ, bố trí 500 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030.

Nguồn lực này dự kiến được tập trung cho xây dựng hạ tầng vùng nuôi tập trung, đồng thời đầu tư đồng bộ hệ thống mốc ranh giới và khu neo đậu lồng bè. Đây là những hạng mục có ý nghĩa nền tảng nếu Khánh Hòa muốn phát triển nuôi biển ở quy mô công nghiệp. Khi vùng nuôi được xác định rõ, có hạ tầng phục vụ sản xuất và an toàn, người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp sẽ có cơ sở để đầu tư dài hạn hơn.

Song song với hạ tầng, tỉnh cũng chú trọng thực thi các chính sách hỗ trợ. Bên cạnh Nghị quyết số 17/2025/NQ-HĐND do HĐND tỉnh ban hành nhằm hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm tai nạn cho lao động nuôi biển, địa phương đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ kinh phí mới. Chính sách này được kỳ vọng tạo điều kiện thuận lợi, tiếp thêm nguồn lực tài chính để người dân yên tâm chuyển đổi từ hệ thống lồng bè truyền thống sang lồng vật liệu mới chịu lực.

Định vị Khánh Hòa trong chiến lược kinh tế biển

Theo báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tỉnh ủy Khánh Hòa đã đề xuất một số giải pháp trọng tâm liên quan đến lĩnh vực nuôi biển. Các kiến nghị gồm nghiên cứu, ban hành chính sách đặc thù để thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển phù hợp với tiềm năng, lợi thế riêng của các tỉnh ven biển; ưu tiên nguồn lực hoàn thiện hạ tầng nghề cá, hậu cần nghề cá và phát triển công nghệ nuôi sâu.

Địa phương cũng đề xuất rà soát quy hoạch, bố trí lại các khu dân cư ven biển nhằm bảo đảm thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với tạo sinh kế bền vững cho người dân. Công tác bảo vệ môi trường ven biển xanh, sạch, đẹp, văn minh được nhấn mạnh, cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền để bảo vệ, giữ gìn môi trường ven biển trở thành sự tự giác và nét văn hóa của cư dân. Đây là cách tiếp cận cho thấy phát triển nuôi biển không chỉ là câu chuyện sản lượng, mà còn liên quan đến không gian sống, môi trường và sinh kế dài hạn.

Với hệ thống vịnh nước sâu, vùng biển kín gió, nền tảng nghiên cứu thủy sản, nghề nuôi truyền thống lâu năm và sự tham gia sớm của doanh nghiệp công nghệ cao, Khánh Hòa đang được định vị như một trung tâm nuôi biển công nghiệp của Việt Nam. Từ Vân Phong đến Cam Ranh, các mô hình lồng HDPE, nuôi biển hở, quản trị môi trường và tự động hóa đang dần thay thế kiểu nuôi lồng gỗ ven bờ. Nếu giải quyết được các nút thắt về vốn, bảo hiểm nuôi biển, quy hoạch không gian biển, chế biến và logistics, Khánh Hòa có thể mở đường cho quá trình chuyển từ nghề cá nhỏ lẻ sang kinh tế đại dương hiện đại, bền vững hơn.

Chưa có đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Phạm Quốc Anh

Chuyên trách thị trường phân bón, urê, DAP và thuốc bảo vệ thực vật. Theo dõi chính sách giá và dư lượng EU.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Bình luận sẽ hiển thị sau khi quản trị viên duyệt.

để gửi bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên đóng góp ý kiến.