Sau gần 10 năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Ban chấp hành Trung ương, kinh tế biển đã ghi nhận những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, so với tiềm năng rộng lớn của không gian biển, đảo, vùng ven bờ và các ngành kinh tế liên quan, dư địa phát triển vẫn còn rất lớn.
Trao đổi về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam, cho rằng kinh tế biển Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn về tư duy, phương thức quản trị và tổ chức thực hiện. Nếu không vượt qua các điểm nghẽn hiện hữu, mục tiêu phát triển bền vững, xanh và có trách nhiệm sẽ khó đạt được như kỳ vọng.
Tiềm năng biển đã được khai thác, nhưng chưa tương xứng
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nhìn tổng thể, các ngành và địa phương ven biển đã có những bước tiến đáng ghi nhận trong khai thác các tiềm năng truyền thống. Du lịch biển, đảo tiếp tục được quan tâm; hệ thống cảng biển và vận tải biển được phát triển; khai thác và nuôi trồng thủy sản vẫn là một trụ cột quan trọng; hoạt động thăm dò dầu khí và một số loại khoáng sản biển tiếp tục đóng góp vào nền kinh tế.
Trong lĩnh vực thủy sản, một chuyển động đáng chú ý là nuôi biển đã có bước dịch chuyển từ khu vực ven bờ ra xa hơn. Đây không chỉ là sự thay đổi về không gian sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển mới cho ngành thủy sản trong bối cảnh vùng ven bờ chịu nhiều áp lực về môi trường, tài nguyên và cạnh tranh sử dụng không gian.
Bên cạnh các lĩnh vực truyền thống, Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến những giá trị mới của biển. PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhắc đến các hướng đi như năng lượng tái tạo, gồm điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển; bảo tồn biển gắn với phát triển sinh kế; đô thị biển; khai thác dược liệu từ sinh vật biển. Đây là những lĩnh vực phù hợp với xu thế phát triển bền vững của thế giới, đồng thời có thể tạo thêm giá trị gia tăng nếu được tổ chức bài bản.
Dù vậy, ông thẳng thắn nhìn nhận mức độ khai thác hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Ở một số nơi còn xuất hiện tình trạng “khai thác nóng”, thiếu kiểm soát, gây áp lực lên hệ sinh thái biển. Nhận thức về phát triển bền vững đã có chuyển biến, song khoảng cách giữa nhận thức và hành động cụ thể, giữa chủ trương và lợi ích kinh tế rõ ràng, vẫn là vấn đề cần giải quyết.
Điểm nghẽn lớn nằm ở tổ chức thực hiện
Lý giải vì sao kinh tế biển chưa đạt quy mô và vị thế tương xứng, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng trước hết phải nhìn vào khâu tổ chức thực hiện. Nghị quyết 36-NQ/TW đã xác định đúng hướng đi và mục tiêu rõ ràng, nhưng cách triển khai ở nhiều nơi còn thiếu đổi mới. Một số ngành, địa phương chưa thật sự hiểu hết tinh thần của nghị quyết, chưa cụ thể hóa thành các chương trình, dự án có tính khả thi cao.
Ông ví tình trạng này như việc “đứng trước bài toán nhưng chưa biết giải như thế nào”. Tức là các chủ thể đã biết mục tiêu cần hướng tới, nhưng chưa xác định rõ con đường, công cụ và cách làm để đi tới mục tiêu đó. Hệ quả là quá trình triển khai có nơi còn lúng túng, thậm chí dậm chân tại chỗ.
Một nguyên nhân quan trọng khác là sự chưa thống nhất trong cách hiểu về “kinh tế biển”. Điều này thể hiện rõ trong các báo cáo quy hoạch phát triển 28 tỉnh/thành phố (này là 21) ven biển/có biển. Nhiều địa phương khi xây dựng quy hoạch vẫn mô tả tiềm năng biển theo cách chung chung, mơ hồ, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn. Khi nền tảng nhận thức chưa rõ ràng, việc xây dựng chiến lược phát triển hiệu quả sẽ gặp nhiều khó khăn.
Nghị quyết 36 đã chỉ ra ba khâu đột phá gồm thể chế, khoa học-công nghệ, nguồn nhân lực và hạ tầng. Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, các khâu này được xác định đúng, nhưng khi đi vào thực tiễn lại thiếu giải pháp cụ thể và thiếu sản phẩm đầu ra rõ ràng. Vì vậy, tổ chức thực hiện tiếp tục là điểm nghẽn lớn cần tháo gỡ nếu muốn đánh thức đầy đủ tiềm năng biển.
Muốn phát triển biển xanh phải đổi mới cách quản lý
Phát triển kinh tế biển xanh, bền vững là mục tiêu được nhắc đến nhiều, nhưng theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, để thực hiện được cần một cách tiếp cận căn cơ. Phát triển không chỉ nhằm tăng trưởng trước mắt, mà còn phải bảo đảm “vốn tự nhiên biển” không bị suy giảm. Nói cách khác, không thể đánh đổi môi trường biển để lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Thực tế hiện nay cho thấy các phương thức quản lý hiện đại như quản lý tổng hợp biển và vùng bờ, quản lý theo không gian dựa vào hệ sinh thái đã được đề cập, nhưng việc áp dụng còn mang tính hình thức. Nguyên nhân chủ yếu là cơ chế phối hợp liên ngành chưa thật sự hiệu quả, dẫn đến xung đột lợi ích và chồng chéo trong sử dụng không gian biển.
Một khu vực biển có thể đồng thời được đặt trong nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau: nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch, bảo tồn hoặc các hoạt động kinh tế khác. Nếu thiếu cơ chế điều phối rõ ràng, việc triển khai các quy hoạch và dự án sẽ phát sinh vướng mắc. Đây là lý do quản lý theo không gian, dựa trên hệ sinh thái và có sự phối hợp liên ngành thực chất được xem là yêu cầu cấp thiết.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cũng lưu ý các công cụ như quy hoạch không gian biển, phân vùng chức năng biển hiện chưa được thể chế hóa đầy đủ. Khi thiếu công cụ quản lý phù hợp, hoạt động quản lý sẽ khó đạt hiệu lực và hiệu quả, trong khi tài nguyên biển ngày càng chịu sức ép lớn hơn từ nhiều nhu cầu phát triển.
Thị trường quốc tế đặt ra yêu cầu khắt khe hơn
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, sản phẩm từ kinh tế biển của Việt Nam ngày càng phải đối mặt với nhiều yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế. Những yêu cầu này không chỉ dừng ở thuế quan, mà còn bao gồm hàng rào kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường. Đây là các điều kiện có tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh, đặc biệt với những ngành có liên quan đến xuất khẩu.
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự thích ứng tốt với các tiêu chuẩn quốc tế. Việc tuân thủ còn hạn chế khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong xuất khẩu. Bài học từ việc xử lý “thẻ vàng” IUU là ví dụ điển hình, cho thấy nếu không đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, Việt Nam sẽ phải trả giá trong tiếp cận thị trường.
Công nghệ là yếu tố có vai trò then chốt. Công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc cách thức sản xuất, quản lý và chất lượng sản phẩm trong kinh tế biển. Nếu không làm chủ được công nghệ, nguy cơ tụt hậu là hiện hữu. Vì vậy, áp dụng công cụ thị trường không thể tách rời quá trình tái cấu trúc nền kinh tế biển theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, vận hành theo chuỗi giá trị.
Cùng với đó, mô hình tăng trưởng cần chuyển dần sang xanh, sạch và có trách nhiệm. Đây không chỉ là yêu cầu từ bên ngoài, mà còn là điều kiện để bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường và sinh kế lâu dài của cộng đồng ven biển.
Nghị quyết mới cần tạo đột phá về quản trị, công nghệ và nhân lực
Về định hướng cho một nghị quyết mới trong phát triển kinh tế biển, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng trước hết cần kế thừa những kết quả đã đạt được từ Nghị quyết 36, đồng thời nhìn thẳng vào những hạn chế đã bộc lộ trong quá trình triển khai. Quan trọng hơn, nghị quyết mới phải bám sát bối cảnh mới và tư duy phát triển mới.
Theo ông, cần chuyển từ quản lý theo ngành sang quản lý theo không gian, dựa trên hệ sinh thái và có sự phối hợp liên ngành thực chất. Đây là chìa khóa để giải quyết xung đột trong sử dụng tài nguyên, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác không gian biển.
- Về thể chế: cần có cơ chế đủ rõ để các công cụ như quy hoạch không gian biển, phân vùng chức năng biển đi vào thực tiễn, thay vì chỉ dừng ở định hướng.
- Về khoa học-công nghệ: cần ưu tiên phát triển công nghệ đại dương tiên tiến, từ quan trắc, dự báo đến khai thác, nuôi trồng và bảo tồn.
- Về nguồn nhân lực: cần xây dựng đội ngũ nhân lực biển có trình độ cao, chuyên nghiệp, có kỹ năng và tư duy hội nhập.
- Về mô hình phát triển: cần hướng tới nền kinh tế biển có trách nhiệm, gắn với bảo tồn và bảo vệ môi trường.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh, công nghệ sẽ quyết định giá trị gia tăng của sản phẩm biển, còn nguồn nhân lực là điều kiện để chính sách đi vào cuộc sống. Nếu thiếu con người phù hợp, các mục tiêu phát triển dù đúng đắn cũng khó biến thành kết quả cụ thể.
Phát triển kinh tế biển vì vậy không chỉ là câu chuyện của tăng trưởng hôm nay, mà còn là trách nhiệm với các thế hệ mai sau. Đánh thức tiềm năng biển đòi hỏi một nền quản trị hiện đại, cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái, năng lực công nghệ tốt hơn và sự tham gia có trách nhiệm của các ngành, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng ven biển.



