Khu vực nuôi vịt rộng hơn 4.000 m2 của ông Lê Vũ Phương tại ấp Phước An B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng cũ, hiện là địa chỉ quen thuộc của nhiều nông dân muốn tìm hiểu kỹ thuật nuôi vịt trời. Từ một mô hình thử nghiệm nhỏ, nơi đây đã phát triển thành điểm cung ứng con giống, hướng dẫn kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm cho các hộ nuôi trong vùng.
Điểm đáng chú ý của mô hình không chỉ nằm ở giá trị kinh tế, mà còn ở quá trình ông Phương tự mày mò để chủ động nguồn giống tại chỗ. Với đặc thù vùng trũng, có nguồn cá tạp sẵn có, việc nuôi vịt trời đang mở thêm hướng sinh kế phù hợp cho nông dân địa phương.
Từ nhiều lần thử sức đến quyết định gắn bó với vịt trời
Trước khi thành công với vịt trời, ông Phương từng thử qua nhiều cách làm ăn như nuôi cá đồng, nuôi vịt biển, trồng năn. Tuy nhiên, các mô hình này cho hiệu quả không cao, khiến ông tiếp tục tìm kiếm hướng đi phù hợp hơn với điều kiện đất đai, nguồn nước và khả năng đầu tư của gia đình.
Năm 2015, thấy một người bà con mua con giống từ miền Bắc về nuôi thử, ông bắt đầu chú ý đến giống vịt có đặc tính hoang dã này. Ban đầu, ông sử dụng ao khoảng 400 m2 để thả nuôi 40 con vịt trời. Đây là bước khởi đầu nhỏ, nhưng cũng là giai đoạn giúp ông nhận ra nuôi vịt trời không thể làm theo cách cảm tính.
Do thiếu kinh nghiệm, đàn vịt ban đầu phát triển không như mong muốn. Ông Phương đi nhiều nơi tham quan, học hỏi, đồng thời mua giống từ nhiều nguồn khác nhau. Dù vậy, tỷ lệ sống vẫn thấp, một phần do con giống phải vận chuyển xa, chưa thích nghi tốt với điều kiện địa phương.
Khuôn viên nuôi vịt trời sinh sản của ông Lê Vũ Phương được bao lưới xung quanh. Ảnh: Chúc Ly.
Chủ động ấp trứng, tháo gỡ nút thắt con giống
Đến năm 2017, từ số vịt còn lại, ông Phương bắt đầu thử ấp trứng để tự chủ con giống. Quá trình này có sự hỗ trợ của huyện và các chuyên gia Đại học Cần Thơ. Dù vậy, con đường làm chủ kỹ thuật không hề dễ dàng. Suốt bốn năm, tỷ lệ nở thường thấp, nhiều lần ông muốn bỏ cuộc.
Sau nhiều lần điều chỉnh kỹ thuật, khoảng 5 năm nay, tỷ lệ nở đạt 80%. Theo ông Phương, ấp trứng vịt trời khó hơn vịt thường, bởi phải qua nhiều công đoạn như đảo trứng, rửa trứng, nhúng trứng, tất cả đều cần độ chính xác cao. Chỉ một sai lệch nhỏ trong quy trình cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ nở.
Hiện ông có ba máy ấp, mỗi mẻ trung bình 7.000 trứng. Với đàn 650 con vịt sinh sản, cơ sở của ông cung cấp khoảng 3.500-4.000 con giống mỗi tháng cho khách ở Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long. Giá bán vịt trời giống là 12.000 đồng một con, nhưng nguồn cung vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu.
Vịt trời giống hiện được ông Phương bán với giá 12.000 đồng mỗi con nhưng không đủ cung ứng. Ảnh: Chúc Ly.
Liên kết hộ nuôi, bao tiêu sản phẩm thương phẩm
Không dừng lại ở việc bán con giống, ông Phương còn hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Hàng chục hộ trong vùng đã tham gia liên kết, nuôi vịt trời thương phẩm để bán vào nhà hàng, khu du lịch. Sản lượng xuất bán đạt khoảng 2.000 con mỗi tháng.
Vịt trời thương phẩm hiện được thương lái thu mua với giá 75.000-80.000 đồng một con, trọng lượng từ 900 gram đến một kg. Nhờ thịt dai, ngọt, chắc, sản phẩm được các nhà hàng ưa chuộng. Giá bán lẻ trên thị trường đạt 350.000 đồng mỗi con. Tuy nhiên, sản lượng hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu.
Về kỹ thuật nuôi, vịt trời thả khoảng 55-60 ngày sẽ đạt trọng lượng xuất bán. Ở giai đoạn này, lông cánh chưa dài nên vịt không bay khỏi khu nuôi. Tỷ lệ sống đạt khoảng 95%, cho thấy khả năng thích nghi tốt nếu người nuôi tuân thủ đúng quy trình chăm sóc.
Trong ba ngày đầu, người nuôi phải giữ vịt trên bờ, bảo đảm nền khô ráo, đủ ấm nhưng không cần xông đèn. Khi còn nhỏ, vịt ăn gạo và thức ăn hỗn hợp. Sau 15 ngày, có thể thả tự nhiên. Với đặc tính hoang dã, sức đề kháng tốt, vịt trời ít bệnh; chi phí nuôi chỉ bằng một phần ba so với vịt thường.
Tính từ lúc nuôi đến khi bán, mỗi con vịt tiêu tốn khoảng 25.000 đồng chi phí giống và thức ăn. Với giá thu mua 75.000-80.000 đồng một con, người nuôi có thể lãi 40.000-50.000 đồng mỗi con. Nhờ đó, nhiều hộ trong vùng có thêm nguồn thu nhập ổn định từ mô hình này.
Quy trình sinh sản và yêu cầu phòng bệnh
Vịt trời trưởng thành ăn lúa, cây chuối, tép, ốc bươu, cá tạp. Đây là những nguồn thức ăn phù hợp với điều kiện vùng trũng, giúp người nuôi giảm một phần chi phí. Tuy nhiên, để phòng bệnh, ông Phương yêu cầu các hộ liên kết phải thực hiện cách ly, vệ sinh ao sau mỗi vụ nuôi. Khu vực nuôi cũng cần rào lưới để tránh vịt bay ra ngoài.
Vịt nuôi khoảng 9 tháng đã bắt đầu sinh sản và có thể kéo dài đến 5 năm. Giai đoạn 3-5 năm tuổi là thời kỳ vịt đẻ tốt nhất, sản lượng trứng cao. Mỗi con mẹ đẻ 11-12 trứng mỗi đợt, các đợt cách nhau 1,5-2 tháng. Sau 3-4 ngày, trứng được đưa vào lò ấp và mất 28 ngày để nở.
Theo nhịp sản xuất hiện nay, cứ mỗi ba ngày, ông Phương xuất một mẻ giống 300-400 con. Việc chủ động được đàn sinh sản và kỹ thuật ấp nở giúp ông xây dựng chuỗi tương đối khép kín, từ sản xuất giống, chuyển giao kỹ thuật đến nuôi thương phẩm và tiêu thụ.
Ông Phương kiểm tra con vịt trời sinh sản. Ảnh: Chúc Ly.
Hướng đi phù hợp với vùng trũng Mỹ Phước
Nhờ phát triển đàn giống và liên kết nhiều hộ nuôi thương phẩm, mỗi năm riêng gia đình ông Phương thu lãi hàng trăm triệu đồng từ cung cấp giống và bán thương phẩm. Theo ông, chìa khóa thành công là sự kiên nhẫn, nắm vững kỹ thuật ấp trứng, chăm sóc đàn vịt đúng quy trình và đặc biệt là có đầu ra ổn định.
Ông Phương cho rằng làm nông khó nhất là tìm thị trường. Khi sản phẩm được bao tiêu, nông dân yên tâm đầu tư và có cơ sở để gắn bó lâu dài. Chính yếu tố thị trường đã giúp mô hình vịt trời không chỉ dừng ở quy mô hộ gia đình, mà từng bước lan tỏa thành liên kết sản xuất trong cộng đồng.
Ông Trần Ngọc Giang Nam, Phó chủ tịch UBND xã Mỹ Phước, cho biết xã khuyến khích bà con nuôi vịt trời từ năm 2018 sau khi khảo sát mô hình ở tỉnh bạn. Với đặc thù địa phương là vùng trũng, người dân có thể tận dụng nguồn cá tạp sẵn có làm thức ăn, giảm chi phí và tăng hiệu quả chăn nuôi.
Theo ông Nam, nhờ chủ động được con giống và có đầu ra ổn định, mô hình nuôi vịt trời mang lại hiệu quả cao, bà con phấn khởi nhân rộng. Từ câu chuyện của ông Lê Vũ Phương, có thể thấy một mô hình chăn nuôi muốn bền vững cần kết hợp kỹ thuật, nguồn giống, tổ chức liên kết và thị trường tiêu thụ rõ ràng.



