Sầu riêng xuất khẩu đang bước vào một nghịch lý đáng chú ý: năng lực kiểm nghiệm trên cả nước được bổ sung, nhưng vùng nguyên liệu trọng điểm vẫn thiếu phòng lab đạt chuẩn. Điều này khiến doanh nghiệp, hợp tác xã phải chạy ngược xuôi gửi mẫu, nhất là khi vào cao điểm thu hoạch.
Theo số liệu mới nhất từ Cục Bảo vệ thực vật, tính đến đầu tháng 6/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) đã phê duyệt thêm 9 phòng kiểm nghiệm Cadimi (Cd) và 3 phòng kiểm nghiệm chất vàng O (Auramine O). Nhờ đó, tổng số cơ sở đủ điều kiện trên cả nước tăng lên 25 phòng kiểm nghiệm Cadimi và 22 phòng kiểm nghiệm chất vàng O. Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở số lượng, mà còn ở cách các phòng kiểm nghiệm được phân bố.
Sầu riêng xuất khẩu mắc kẹt ở khâu kiểm nghiệm
Miền Nam là khu vực trọng điểm xuất khẩu trái cây lớn của cả nước, trong đó có nhiều vùng trồng sầu riêng phục vụ thị trường nước ngoài. Thế nhưng mạng lưới kiểm nghiệm tại đây lại đang co cụm ở một số đô thị lớn, tạo ra điểm nghẽn cho các địa phương nằm trong vùng lõi nông sản.
Toàn khu vực miền Nam hiện có 9 phòng kiểm nghiệm Cadimi và 13 phòng kiểm nghiệm chất vàng O. Dù vậy, phần lớn lại tập trung tại TP.HCM và TP Cần Thơ. Cụ thể, TP.HCM có 5 phòng kiểm nghiệm Cadimi và 7 phòng kiểm nghiệm chất vàng O; TP Cần Thơ có 3 phòng kiểm nghiệm Cadimi và 5 phòng kiểm nghiệm chất vàng O.
Trong khi đó, các địa phương được xem là thủ phủ trái cây ở miền Tây gần như còn trống trải về hạ tầng kiểm nghiệm. Theo thông tin được nêu, chỉ có duy nhất Cà Mau sở hữu 1 phòng cho mỗi chỉ tiêu. Sự chênh lệch này khiến năng lực kiểm nghiệm không theo kịp nhu cầu thực tế tại vùng sản xuất, nơi doanh nghiệp cần xử lý mẫu nhanh để đáp ứng tiến độ thu mua, đóng gói và xuất hàng.
Mạng lưới phòng lab lệch khỏi vùng nguyên liệu
Với sầu riêng xuất khẩu, các chỉ tiêu như Cadimi và chất vàng O có ý nghĩa trực tiếp đối với việc đáp ứng yêu cầu từ thị trường nhập khẩu. Khi phòng kiểm nghiệm nằm xa vùng trồng, doanh nghiệp không chỉ mất thêm thời gian vận chuyển mẫu, mà còn phải tính toán lại lịch thu hoạch, phân loại, đóng hàng và giao cho đối tác.
Ông Võ Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội sầu riêng Đồng Tháp, phản ánh: "Từ trước đến nay các doanh nghiệp tại địa phương vẫn phải gửi mẫu qua Cần Thơ hoặc ngược lên TP.HCM để kiểm nghiệm". Phát biểu này cho thấy khoảng cách giữa vùng nguyên liệu và điểm kiểm nghiệm đã trở thành áp lực thường trực, không phải vấn đề phát sinh trong một thời điểm đơn lẻ.
Khi bước vào cao điểm thu hoạch, áp lực càng rõ hơn. Nhu cầu xét nghiệm tăng nhanh trong khi số phòng lab gần vùng sản xuất không nhiều, khiến doanh nghiệp và hợp tác xã lân cận dễ rơi vào tình trạng chờ đợi. Với một mặt hàng có giá trị cao, yêu cầu giao hàng đúng thời điểm và phụ thuộc chặt chẽ vào tiêu chuẩn kiểm dịch, sự chậm trễ ở khâu kiểm nghiệm có thể làm giảm tính chủ động của cả chuỗi cung ứng.
Xã hội hóa phòng lab tư nhân: cần nhưng khó
Trước thực tế đó, giải pháp xã hội hóa, tức mở rộng các phòng lab tư nhân ngay tại vùng nguyên liệu, được xem là hướng đi cần thiết để giảm tải cho những trung tâm lớn. Nếu có thêm cơ sở kiểm nghiệm đạt chuẩn gần vùng trồng, doanh nghiệp sầu riêng xuất khẩu có thể rút ngắn thời gian gửi mẫu, theo dõi kết quả và xử lý đơn hàng kịp thời hơn.
Tuy nhiên, rào cản đầu tiên là chi phí đầu tư quá lớn. Ông Võ Tấn Lợi cho biết, để xây dựng một phòng thử nghiệm đạt chuẩn với hệ thống máy móc nghiêm chỉnh, số vốn doanh nghiệp phải bỏ ra là cực kỳ lớn. Ngay một phòng test quy mô nhỏ vừa được tư nhân đầu tư tại tỉnh Đồng Tháp đã tiêu tốn gần 20 tỷ đồng. Với các phòng lab quy mô lớn hơn, gánh nặng tài chính còn cao hơn nữa.
Không chỉ vốn đầu tư, các đơn vị tư nhân còn đối mặt với rủi ro pháp lý và quy trình thẩm định phức tạp để được phía Trung Quốc, tức GACC, chính thức phê duyệt. Việc bỏ ra hàng chục tỷ đồng nhưng phải chờ đợi thời gian dài mới được công nhận khiến nhiều nhà đầu tư chùn bước. Trong bối cảnh thị trường có thể biến động, bài toán hoàn vốn càng trở nên khó đoán.
Điểm nghẽn cần được tháo gỡ để giữ nhịp xuất khẩu
Câu chuyện phòng kiểm nghiệm cho thấy sầu riêng xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào vùng trồng, mã số, nhà đóng gói hay nhu cầu thị trường, mà còn phụ thuộc vào hạ tầng dịch vụ hỗ trợ phía sau. Khi các mắt xích kiểm nghiệm tập trung xa vùng nguyên liệu, chi phí thời gian và vận hành sẽ dồn về doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
Việc GACC phê duyệt thêm phòng kiểm nghiệm là tín hiệu tích cực, bởi năng lực toàn quốc đã tăng lên. Nhưng để tác động đi vào thực chất, mạng lưới này cần gần hơn với nơi phát sinh nhu cầu lớn nhất. Nếu điểm nghẽn phân bố không được tháo gỡ, các vùng nguyên liệu tỷ đô vẫn có thể thiếu công cụ kiểm soát chất lượng ngay tại chỗ.
Trong giai đoạn thị trường ngày càng siết tiêu chuẩn, kiểm nghiệm không còn là khâu phụ trợ đơn thuần mà là điều kiện để hàng hóa đi được xa. Với sầu riêng xuất khẩu, một mạng lưới phòng lab hợp lý, được công nhận và vận hành hiệu quả sẽ góp phần giảm áp lực cho doanh nghiệp, tăng tính chủ động của vùng nguyên liệu và củng cố niềm tin trong chuỗi xuất khẩu.



