Giữa những bãi bồi ven sông tại thôn Phú Xuân, xã Phú Thuận, TP Đà Nẵng, các ruộng mè đen và đậu phụng đang bước vào vụ thu hoạch trong một quy trình canh tác đặc biệt: không thuốc bảo vệ thực vật, không thuốc diệt cỏ, không phân hóa học. Từ vùng đất này, những hạt mè, hạt đậu sạch được sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế để phục vụ các thị trường khó tính như EU và Nhật Bản.
Vùng nguyên liệu rộng 6,7 ha hiện có 22 hộ dân tham gia. Đã sang năm thứ ba liên tiếp được cấp chứng nhận hữu cơ quốc tế Mỹ USDA Organic, Liên minh Châu Âu EU và Nhật Bản, mô hình tại Phú Thuận cho thấy nông nghiệp hữu cơ không chỉ là thay đổi loại vật tư sử dụng, mà trước hết là thay đổi tư duy sản xuất, cách ứng xử với đất, với cây trồng và với chính sức khỏe của người nông dân.
Khắt khe từ đất, nước đến từng công đoạn xuống giống
Ông Phan Văn Lành, Tổ trưởng Chi hội nghề nghiệp Nông nghiệp hữu cơ trồng mè, đậu phụng sạch xã Phú Thuận, cho biết toàn bộ quá trình sản xuất được kiểm soát ngay từ trước khi xuống giống. Trước mỗi vụ, doanh nghiệp phối hợp với đơn vị kiểm định lấy mẫu đất, mẫu nước để phân tích theo tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế. Khi cây phát triển hoặc trước thời điểm thu hoạch, các mẫu tiếp tục được lấy lại nhằm đánh giá dư lượng và các chỉ tiêu an toàn.
Theo ông Lành, yêu cầu đầu tiên là đất phải sạch, không tồn dư hóa chất mới được triển khai sản xuất. Không chỉ đất và nước, những dụng cụ đưa xuống ruộng cũng phải được vệ sinh cẩn thận để hạn chế nguy cơ nhiễm chéo. Với sản xuất hữu cơ phục vụ xuất khẩu, một sai sót nhỏ trong khâu canh tác hoặc sơ chế đều có thể ảnh hưởng đến chứng nhận, vì vậy nông dân buộc phải tuân thủ đồng bộ từ đầu vụ đến cuối vụ.
Điểm khác biệt lớn nhất so với canh tác thông thường là vùng nguyên liệu tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ hay phân hóa học. Những vật tư được phép đưa vào đồng ruộng chỉ gồm vôi, lân và phân chuồng đã qua xử lý. Ngay cả các loại thuốc sinh học hay chế phẩm được quảng cáo là an toàn cũng không được sử dụng trong vùng sản xuất này.
Giám sát chặt để bảo vệ chứng nhận hữu cơ
Trên các cánh đồng mè và đậu phụng tại Phú Thuận, hệ thống camera được lắp đặt để giám sát toàn bộ quá trình sản xuất. Người ngoài gần như không được tự ý vào vùng nguyên liệu nhằm hạn chế nguy cơ mang theo mầm bệnh hoặc nguồn ô nhiễm từ bên ngoài. Cách quản lý này khiến sản xuất hữu cơ trở thành một chuỗi công việc có kỷ luật, không phụ thuộc vào thói quen riêng lẻ của từng hộ.
Ông Phan Văn Lành chia sẻ, làm hữu cơ phải đồng bộ tuyệt đối. Chỉ cần sai một công đoạn là có thể mất chứng nhận. Nhận thức đó khiến người dân trong vùng phải thay đổi từ việc chọn vật tư, sử dụng công cụ, chăm sóc cây, xử lý cỏ dại đến thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch.
Sự khắt khe này cũng là điều kiện để hạt mè, hạt đậu phụng của địa phương có thể đi vào những thị trường yêu cầu cao. Khi sản phẩm được gắn với các chứng nhận USDA Organic, EU và Nhật Bản, giá trị không chỉ nằm ở sản lượng thu được, mà còn nằm ở khả năng chứng minh nguồn gốc, quy trình và mức độ an toàn của từng lô hàng.
Nuôi đất khỏe để cây trồng khỏe
Theo người dân địa phương, sau mỗi vụ thu hoạch, toàn bộ thân cây mè, cây đậu được băm nhỏ rồi trả lại đồng ruộng như một nguồn phân xanh tự nhiên. Đất cũng được cho nghỉ khoảng 4 tháng trong mùa mưa lũ để đón phù sa từ sông. Quãng thời gian nghỉ này giúp hệ vi sinh trong đất có điều kiện phục hồi, từ đó tạo nền tảng cho cây trồng phát triển ổn định hơn ở các vụ sau.
Ông Lành cho hay, với những diện tích đất phù sa, cây trồng phát triển khá khỏe. Còn ở các chân đất cằn hơn, bà con chủ động cải tạo bằng cách trả phụ phẩm cây trồng lại cho ruộng để tăng dinh dưỡng tự nhiên. Đây là cách làm chậm nhưng bền, phù hợp với triết lý của sản xuất hữu cơ: trước khi muốn cây khỏe, phải nuôi cho đất khỏe.
Sau nhiều năm chuyển đổi, chất lượng đất tại vùng sản xuất có sự thay đổi rõ rệt. Nếu trước đây đất có dấu hiệu chai cứng do sử dụng nhiều phân hóa học, nay mặt ruộng tơi xốp hơn, khả năng giữ ẩm tốt hơn. Nhiều nông dân cho biết giai đoạn đầu chuyển đổi là thời điểm khó nhất, vì cây chưa thích nghi, đất chưa phục hồi hoàn toàn nên sâu bệnh xuất hiện nhiều. Tuy nhiên, sau nhiều vụ liên tục không dùng hóa chất, hệ sinh thái đồng ruộng dần cân bằng trở lại, cây khỏe hơn và sức đề kháng tự nhiên tốt hơn.
Lấy công làm lãi, đổi lại sức khỏe và đầu ra ổn định
Bà Lê Thị Nam, hộ có nhiều năm trồng mè, đậu hữu cơ tại Phú Thuận, nói rằng làm hữu cơ đồng nghĩa với việc lấy công làm lãi. Do không dùng thuốc diệt cỏ, nông dân phải nhổ cỏ bằng tay quanh năm. Có thời điểm cỏ mọc dày, người dân mất hàng chục ngày mới dọn sạch được vài sào ruộng. Khi cây bị sâu bệnh, bà con chấp nhận nhổ bỏ, cách ly cây bệnh, thay vì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, kể cả thuốc sinh học.
Theo bà Nam, công việc vất vả hơn nhiều so với sản xuất truyền thống, nhất là khi đất cứng phải dùng cuốc moi lên rồi mới nhổ được cỏ. Nhưng đổi lại, nông dân không còn phải tiếp xúc với hóa chất, sức khỏe người làm ruộng được bảo vệ tốt hơn, đất cũng dần phục hồi. Đây là giá trị khó đo đếm ngay bằng tiền, nhưng có ý nghĩa lâu dài đối với cộng đồng sản xuất.
Không chỉ khâu chăm sóc, thu hoạch và sơ chế cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ. Đậu, mè sau khi thu hoạch phải được lựa sạch từng hạt. Hạt mốc, hạt đen, hạt lép hoặc lẫn đất cát đều phải loại bỏ hoàn toàn để đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu. Bà Nam cho biết, nếu làm truyền thống có thể thu gom rồi bán ngay, thì làm hữu cơ phải lựa kỹ từng hạt, vì chất lượng sau thu hoạch là một phần không thể tách rời của quy trình.
Doanh nghiệp liên kết, nông dân yên tâm sản xuất
Dù năng suất thấp hơn khoảng 10 - 15% so với phương thức canh tác truyền thống, mô hình hữu cơ tại Phú Thuận vẫn mang lại hiệu quả kinh tế ổn định nhờ giá bán cao và đầu ra được đảm bảo. Hiện toàn bộ sản phẩm mè và đậu phụng hữu cơ đều được doanh nghiệp bao tiêu với giá cố định ngay từ đầu vụ. Đậu phụng được thu mua khoảng 55.000 đồng/kg, trong khi mè hữu cơ đạt tới 70.000 đồng/kg, cao hơn đáng kể so với sản phẩm thông thường trên thị trường.
Với nông dân, điểm quan trọng không kém giá bán là không còn nỗi lo được mùa mất giá. Sản xuất truyền thống có thể nhẹ công hơn do được dùng thuốc diệt cỏ, phân bón hóa học, nhưng giá cả thường bấp bênh. Trong khi đó, sản xuất hữu cơ vất vả hơn, song đầu ra ổn định giúp bà con có cơ sở để đầu tư lâu dài và tuân thủ quy trình nghiêm ngặt.
Vai trò của doanh nghiệp trong mô hình liên kết được thể hiện rõ. Công ty TNHH Thực phẩm NOOM, ở xã Thăng An, không chỉ bao tiêu sản phẩm mà còn hỗ trợ máy móc, hệ thống tưới, camera giám sát và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân trong suốt quá trình sản xuất. Sự đồng hành này góp phần hình thành lớp nông dân mới, sản xuất bài bản hơn, có kiến thức hơn và có ý thức hơn trong bảo vệ môi trường canh tác.
Mở hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Phú Thuận
Theo bà Lê Thị Ánh, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phú Thuận, vùng nguyên liệu hữu cơ 6,7 ha hiện được duy trì ổn định nhằm bảo đảm khả năng kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Cùng với đó, tinh thần và quy trình sản xuất hữu cơ đang tiếp tục lan tỏa sang các nhóm cây trồng khác trên địa bàn.
Bà Ánh cho biết, ngoài mô hình mè và đậu phộng hữu cơ, địa phương đang khảo sát để liên kết phát triển thêm các cây trồng theo hướng hữu cơ, đặc biệt là cây dược liệu. Hội Nông dân xã đã bước đầu làm việc với một số doanh nghiệp để nghiên cứu triển khai mô hình trồng dược liệu trên diện tích đất nông nghiệp của người dân xã Phú Thuận.
Nhìn lại chặng đường hơn 10 năm chuyển đổi, câu chuyện nông nghiệp hữu cơ tại Phú Thuận không chỉ là chuyện tăng doanh thu. Đó còn là minh chứng cho sức mạnh của liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và tổ chức địa phương; đồng thời cho thấy sự kiên định với sản xuất sạch có thể mở ra hướng đi bền vững. Những hạt đậu, hạt mè từ vùng bãi bồi ven sông hôm nay mang theo giá trị xuất khẩu, nhưng quan trọng hơn, chúng đại diện cho một cách làm nông nghiệp đặt sức khỏe của đất, của cây trồng và con người lên hàng đầu.



