Bỏ qua đến nội dung chính
Thứ Sáu, ngày 29 tháng 5 năm 2026|

Nuôi tôm ven biển Vĩnh Long chuyển mình nhờ công nghệ và dữ liệu

Tác giả: · Xuất bản:
Thủy sản13 phút trước1 lượt xem9 phút đọc
Nuôi tôm ven biển Vĩnh Long chuyển mình nhờ công nghệ và dữ liệu
🎧 Nghe bài viết

Nghề nuôi tôm ven biển ở tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ. Từ những ao nuôi trước đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thủ công, nhiều vùng nuôi nay đã xuất hiện hệ thống quạt nước tự động, ao lót bạt, thiết bị đo oxy hòa tan, quan trắc độ mặn, camera giám sát môi trường và các công cụ vận hành liên tục.

Sự thay đổi này không chỉ nhằm tăng năng suất, mà còn hướng đến mục tiêu tiết kiệm năng lượng, kiểm soát phát thải carbon, giảm rủi ro dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường xuất khẩu. Với ngành tôm, công nghệ đang dần trở thành điều kiện bắt buộc để duy trì sức cạnh tranh thay vì chỉ là lựa chọn của một số mô hình tiên phong.

Diện tích nuôi công nghệ cao tăng nhanh

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng toàn tỉnh tăng từ 19.640ha năm 2020 lên khoảng 21.500ha năm 2025. Trong cùng giai đoạn, diện tích nuôi công nghệ cao tăng từ 2.382ha lên khoảng 7.000ha. Sản lượng nuôi cũng tăng mạnh, từ hơn 121.000 tấn lên khoảng 293.000 tấn.

Riêng 4 tháng đầu năm 2026, diện tích thả nuôi tôm thẻ chân trắng toàn tỉnh đạt hơn 11.125ha, tăng hơn 5% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch đạt hơn 53.000 tấn. Trong đó, diện tích nuôi công nghệ cao đạt khoảng 3.625ha, sản lượng hơn 31.000 tấn. Những con số này cho thấy xu hướng chuyển đổi đã đi vào thực tế sản xuất, không còn dừng ở các mô hình trình diễn.

Điểm đáng chú ý là sự mở rộng diện tích đi kèm với thay đổi trong phương thức quản trị ao nuôi. Người nuôi đang chuyển từ cách làm phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm sang mô hình quản lý bằng dữ liệu, theo dõi các chỉ số môi trường và xử lý sớm khi ao nuôi có biến động. Đây là bước chuyển quan trọng trong bối cảnh dịch bệnh, biến đổi khí hậu và yêu cầu chất lượng sản phẩm đều tạo áp lực lớn lên nghề nuôi tôm.

Từ quảng canh sang nuôi nhiều giai đoạn, tuần hoàn

Tại nhiều vùng nuôi ven biển như Mỹ Long, Long Vĩnh, Long Hòa hay phường Duyên Hải, mô hình nuôi tôm nhiều giai đoạn và nuôi tuần hoàn ngày càng phổ biến. Người nuôi từng bước chuyển từ quảng canh, bán thâm canh sang thâm canh và siêu thâm canh, trong đó môi trường ao nuôi được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Ở xã Long Hòa, ông Phạm Đắc Tâm, Chủ tịch UBND xã, cho biết địa phương hiện có 2.592 hộ nuôi thủy sản với diện tích hơn 2.634ha, đạt hơn 90% kế hoạch năm. Trong đó, nuôi công nghiệp có 264 hộ với diện tích 322ha, còn lại là nuôi quảng canh kết hợp. Tổng sản lượng thủy sản thu hoạch đến nay đạt hơn 5.476 tấn, bằng gần 52% kế hoạch năm; riêng nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 2.898 tấn.

Dù kết quả sản xuất có nhiều tín hiệu tích cực, rủi ro dịch bệnh vẫn là thách thức thường trực. Theo ông Tâm, thời gian qua địa phương ghi nhận 17 hộ nuôi tôm thẻ công nghiệp bị thiệt hại với diện tích hơn 5,5ha, nguyên nhân nghi liên quan bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy. Ông nhấn mạnh: “Điều này cho thấy nghề nuôi tôm hiện không còn phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm mà đòi hỏi phải tăng cường quan trắc môi trường, kiểm soát an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ trong quản lý ao nuôi”.

Theo ngành chuyên môn, mô hình nuôi nhiều giai đoạn giúp tôm thích nghi dần với môi trường, giảm tỷ lệ hao hụt và hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Trong khi đó, hệ thống ao lót bạt kết hợp xử lý tuần hoàn giúp kiểm soát chất lượng nước, giảm ô nhiễm hữu cơ và tiết kiệm tài nguyên nước, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.

Các thiết bị quan trắc tự động cũng đang hỗ trợ người nuôi theo dõi liên tục những chỉ số quan trọng như pH, oxy hòa tan, độ kiềm và độ mặn. Nhiều hệ thống có khả năng cảnh báo trực tiếp qua điện thoại khi môi trường ao nuôi biến động bất thường. Nhờ vậy, người nuôi có thể can thiệp sớm thay vì chờ đến khi tôm phát bệnh hoặc ao nuôi suy giảm chất lượng rõ rệt.

Giảm phát thải trở thành yêu cầu mới của ngành tôm

Không chỉ dừng ở tự động hóa ao nuôi, nhiều doanh nghiệp công nghệ đang tiếp cận nghề nuôi tôm theo hướng giảm phát thải carbon. Trong bối cảnh các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản ngày càng siết chặt tiêu chuẩn low-carbon, net-zero và truy xuất phát thải, ngành tôm Việt Nam phải chuyển dần sang mô hình nuôi tiết kiệm năng lượng, minh bạch về quy trình và kiểm soát môi trường bằng dữ liệu.

Theo các chuyên gia thủy sản, phát thải trong nuôi tôm hiện chủ yếu đến từ tiêu thụ điện cho quạt nước, hệ thống oxy và thất thoát thức ăn hữu cơ trong ao nuôi. Vì vậy, ứng dụng IoT, AI và tự động hóa được xem là hướng đi quan trọng để tối ưu vận hành, giảm tiêu hao tài nguyên, đồng thời nâng hiệu quả quản lý sản xuất.

TS Nguyễn Thanh Mỹ, đại diện RYNAN Technologies, cho biết mô thức nuôi TOMGOXY® đang ứng dụng hệ thống giám sát môi trường ao nuôi theo thời gian thực, kết hợp điều khiển tự động quạt nước và oxy nhằm giảm tiêu thụ điện năng, hạn chế phát sinh khí CO₂ và CH₄ trong quá trình nuôi. Mô hình này đồng thời tích hợp hệ thống tạo oxy hiệu suất cao, máy cho tôm ăn tự động, thiết bị hạn chế rong tảo và xua đuổi chim cò quanh ao nuôi.

Nhờ tối ưu vận hành và kiểm soát môi trường bằng dữ liệu, TOMGOXY® giúp giảm mức tiêu hao điện từ khoảng 5.000 kWh xuống còn khoảng 2.000 kWh cho mỗi tấn tôm thương phẩm. Mô hình cũng góp phần giảm thất thoát thức ăn và nâng hiệu quả quản lý ao nuôi. Theo giới chuyên môn, xu hướng giảm phát thải carbon trong nuôi trồng thủy sản không còn là thử nghiệm đơn lẻ mà đang trở thành điều kiện quan trọng để tôm Việt Nam duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi là hướng đi bắt buộc

Một thay đổi đáng chú ý khác là xu hướng giảm dần phụ thuộc vào kháng sinh. Các chế phẩm sinh học, quy trình nuôi an toàn sinh học và các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC đang được mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu.

Theo các doanh nghiệp chế biến thủy sản, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát dư lượng đã trở thành “giấy thông hành” bắt buộc nếu muốn duy trì xuất khẩu vào EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Điều này buộc nghề nuôi tôm phải chuyển dần sang mô hình sản xuất minh bạch, số hóa và kiểm soát chặt toàn bộ quy trình nuôi, từ con giống, thức ăn, môi trường nước đến thu hoạch.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi công nghệ cũng đặt ra không ít thách thức. Nuôi công nghệ cao đòi hỏi chi phí đầu tư lớn cho hệ thống điện, ao nuôi, xử lý nước, thiết bị giám sát và con giống chất lượng cao. Bên cạnh đó, áp lực môi trường tại các vùng nuôi tập trung sẽ ngày càng lớn nếu phát triển thiếu kiểm soát hoặc không đồng bộ với hạ tầng xử lý nước thải.

Ông Phạm Minh Truyền, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, cho biết địa phương sẽ tiếp tục phát triển nuôi tôm theo hướng công nghiệp, công nghệ cao và bền vững. Tỉnh ưu tiên các mô hình nuôi tuần hoàn, nuôi hai giai đoạn, ứng dụng công nghệ xử lý nước thải và quản lý an toàn sinh học. Cùng với quy hoạch vùng nuôi tập trung, Vĩnh Long định hướng tăng cường chuyển đổi số trong quản lý sản xuất, giám sát môi trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm; đồng thời thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi để hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Định hướng đến năm 2030, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng toàn tỉnh dự kiến đạt khoảng 26.200ha, trong đó khoảng 10.000ha ứng dụng công nghệ cao. Năm 2025, diện tích nuôi tôm toàn tỉnh Vĩnh Long đạt khoảng 69.800ha, trong đó có 7.500ha nuôi công nghệ cao. Sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 293.000 tấn, tôm sú hơn 18.820 tấn. Tại các vùng nuôi trọng điểm, mô hình nuôi công nghệ cao cho năng suất 50 - 70 tấn/ha, lợi nhuận đạt 500 - 700 triệu đồng/ha/vụ. Đặc biệt, nhãn hiệu chứng nhận “Tôm Trà Vinh” đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bảo hộ từ năm 2023 cho nhiều nhóm sản phẩm tôm thương phẩm và tôm giống.

Với tốc độ mở rộng diện tích, sự tham gia của công nghệ số và yêu cầu ngày càng rõ từ thị trường xuất khẩu, nghề nuôi tôm ven biển Vĩnh Long đang chuyển từ tăng trưởng theo sản lượng sang tăng trưởng dựa trên quản trị, minh bạch và bền vững. Đây là nền tảng quan trọng để ngành tôm địa phương thích ứng tốt hơn với rủi ro dịch bệnh, biến đổi khí hậu và áp lực cạnh tranh quốc tế.

Chưa có đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Ngô Thị Huyền

Phóng viên chuyên đề thời tiết, El Niño/La Niña và tác động lên mùa vụ. Cộng tác với Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Bình luận sẽ hiển thị sau khi quản trị viên duyệt.

để gửi bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên đóng góp ý kiến.