Vải thiều Bắc Ninh năm 2026 đang tạo nên một mùa vụ đặc biệt: sản lượng giảm gần một nửa so với năm trước do ảnh hưởng thời tiết, nhưng giá bán lại tăng mạnh, có thời điểm vải chính vụ đạt 80.000–90.000 đồng/kg. Từ vườn trồng, chợ đầu mối, đường hàng không đến các sàn thương mại điện tử, nhiều lô vải vừa thu hái đã có thương lái và khách hàng đặt mua.
Trong bối cảnh nguồn cung khan hiếm, chất lượng quả, tốc độ vận chuyển và cách tổ chức tiêu thụ trở thành yếu tố quyết định giá trị. Mùa vải năm nay vì vậy không chỉ phản ánh câu chuyện “mất mùa được giá”, mà còn cho thấy sự thay đổi rõ nét trong cách nông dân, thương lái và cơ quan quản lý tiếp cận thị trường.
Vải thiều Bắc Ninh giảm sản lượng nhưng doanh thu gần bằng năm trước
Theo thông tin từ ngành công thương địa phương, vải thiều Bắc Ninh đang bước vào cao điểm thu hoạch chính vụ, với sản lượng riêng giai đoạn này ước đạt khoảng 36.500 tấn. Tổng sản lượng vải thiều toàn tỉnh Bắc Ninh năm 2026 dự kiến đạt khoảng 125.000 tấn, chỉ bằng 60,9% so với năm 2025. Đây là mức giảm sâu, nguyên nhân chính được ghi nhận là do ảnh hưởng của thời tiết.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là giá trị kinh tế của vụ vải không giảm tương ứng với sản lượng. Ông Nguyễn Thế Thi, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh, cho biết đến ngày 15/6/2026, doanh thu từ vải thiều ước đạt khoảng 3.665 tỷ đồng, tương đương 98,55% so với cả năm 2025. Con số này cho thấy giá bán cao đã bù đắp đáng kể phần sản lượng thiếu hụt.
Giá vải thiều duy trì ở mức cao kỷ lục trong suốt mùa. Vải sớm dao động từ 35.000–70.000 đồng/kg, vải chính vụ từ 55.000–90.000 đồng/kg. Cá biệt, vải u trứng có thời điểm lên tới 300.000 đồng/kg. Hiện giá vải chính vụ phổ biến ở mức 60.000–80.000 đồng/kg và có xu hướng tăng, góp phần nâng cao thu nhập cho người trồng.
Nông dân bán ít hơn nhưng thu nhiều hơn
Tại thôn Chay, xã Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh, ông Lý Văn Trí cho biết đầu ra năm nay thuận lợi hơn nhiều năm trước. Vải được bán cho xuất khẩu, thương lái Trung Quốc, đồng thời có thêm khách du lịch đến tận vườn mua trực tiếp. Sự kết hợp giữa thương mại truyền thống và các kênh tiêu thụ mới giúp việc bán hàng diễn ra nhanh, ít chịu áp lực tồn hàng.
Theo ông Trí, giá bán tại vườn đang giữ ở mức cao. Loại đẹp gần 80.000 đồng/kg, loại trung bình khoảng 70.000 đồng/kg, thấp hơn cũng khoảng 60.000 đồng/kg. Dù sản lượng giảm mạnh, chỉ còn 5–6 tấn/ha so với mức 12–14 tấn những năm trước, thu nhập của gia đình vẫn tăng. Ông dẫn chứng, năm trước 10 tấn vải thu khoảng 200 triệu đồng, còn năm nay 5 tấn bán với giá trung bình thấp nhất 60.000 đồng/kg đã thu khoảng 300 triệu đồng.
Câu chuyện của gia đình ông Trí cho thấy giá cao đang tạo lực đỡ lớn cho người trồng trong một năm sản lượng không thuận. Tuy vậy, ông cũng thận trọng cho rằng không phải hộ nào cũng đạt được kết quả như vậy, bởi có nơi sản lượng rất thấp. Với gia đình ông, đầu ra thuận lợi và giá cao giúp hiệu quả vụ vải vẫn khả quan.
Kênh bán mới giúp vải thiều Bắc Ninh tiếp cận khách hàng nhanh hơn
Một điểm mới của mùa vụ năm nay là các kênh tiêu thụ hiện đại phát huy hiệu quả rõ hơn. Vải thiều từ các “vườn vải đẹp” được đưa lên sàn thương mại điện tử với giá 70.000–75.000 đồng/kg. Khách du lịch đến tham quan có thể mua trực tiếp tại vườn hoặc đặt gửi đi toàn quốc. Theo ông Trí, nhờ livestream từ năm trước, nhiều khách đã biết đến vườn và tiếp tục đặt mua trong mùa này.
Hiện toàn tỉnh Bắc Ninh có 143 “vườn vải đẹp” được công nhận và gắn trên Google Maps. Cách làm này giúp khách hàng dễ tìm đến điểm tham quan, đồng thời hỗ trợ quảng bá sản phẩm ngay tại vùng trồng. Với những vườn có chất lượng quả tốt, cảnh quan đẹp và biết khai thác bán hàng trực tuyến, giá trị thu về không chỉ nằm ở số cân vải bán ra, mà còn ở trải nghiệm và niềm tin của người mua.
Mô hình du lịch trải nghiệm kết hợp bán hàng trực tuyến cũng đang góp phần tăng thu nhập. Khách đến vườn thường mua tại chỗ hoặc đặt hàng với số lượng từ vài chục cân đến 1–2 tạ. Gia đình ông Trí năm nay bắt đầu lấy mẫu vải để xét nghiệm, hướng tới xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Dù vậy, việc này còn khó do sản lượng thấp, không đủ gom hàng lớn. Theo ông, mỗi lô xuất cần khoảng 10 tấn, nhưng sản lượng không tập trung; nếu gửi ít thì chi phí rất cao.
Thương lái chạy đua với nguồn cung khan hiếm
Ngay từ đầu vụ, thị trường vải thiều đã nóng lên khi giá liên tục neo ở mức cao. Chị Hà Thị Nga, thương lái vận chuyển vải bằng đường hàng không tại Lục Ngạn, cho biết hàng đẹp phục vụ xuất khẩu luôn được thu mua với giá cao. Loại xuất khẩu hiện được chị mua cao nhất khoảng 65.000 đồng/kg, còn mức phổ biến dao động từ 55.000–58.000 đồng/kg.
Sản lượng sụt giảm khiến tổng lượng hàng lưu thông không còn dồi dào như năm trước. Chị Nga cho biết năm ngoái chị vận chuyển gần 500 tấn, nhưng năm nay dự kiến chỉ khoảng 200–300 tấn. Giá cao có làm sức mua chững lại phần nào, song thị trường vẫn không hạ nhiệt. Có ngày lượng tiêu thụ vẫn đạt 20–30 tấn, chủ yếu đưa vào chợ Thủ Đức.
Chi phí logistics, đặc biệt là vận chuyển đường hàng không, tiếp tục là bài toán lớn. Theo chị Nga, tính cả chi phí, mỗi kg vải đội thêm khoảng 22.000 đồng; nếu mua 60.000 đồng/kg thì khi vào miền Nam đã khoảng 82.000 đồng/kg. Bù lại, lợi thế tốc độ giúp “hàng bay” giữ sức hút, chỉ khoảng 2,5 giờ là tới tay người tiêu dùng, qua đó giữ được độ tươi ngon của quả vải.
Ở góc độ xuất khẩu, chị Lục Thị Mai cho biết năm nay là một trong những mùa vụ sôi động nhất. Hàng vải thiều Việt Nam sang Trung Quốc đi rất nhanh, bán thuận lợi và được giá cao. Giá thu mua vải chính vụ phổ biến 55.000–65.000 đồng/kg, giữ ổn định suốt mùa. Loại đẹp, đạt chuẩn cao có thể lên tới 68.000 đồng/kg, trong khi hàng phổ thông khoảng 50.000–55.000 đồng/kg.
Nguồn cung giảm trong khi nhu cầu tăng, đặc biệt khi phía Trung Quốc cũng mất mùa, đã tạo nên tình trạng khan hàng. Theo chị Mai, vải ít nên giá cao, hàng mua xong là đi ngay. Điều này cũng giúp người trồng phấn khởi hơn, bởi vải bán nhanh, không còn cảnh ùn ứ hay bị ép giá như trước.
Tiêu thụ gần 70% kế hoạch, xuất khẩu thuận lợi nhờ “luồng xanh”
Tính đến ngày 15/6/2026, tỉnh Bắc Ninh đã tiêu thụ khoảng 87.230 tấn vải thiều, đạt gần 70% kế hoạch. Trong đó, thị trường nội địa chiếm tỷ trọng lớn với 68.375 tấn, tương đương 78,4%; xuất khẩu đạt 18.855 tấn, tương đương 21,6%. Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chủ yếu, ước đạt khoảng 18.500 tấn; còn lại là các thị trường khác gồm EU, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Úc, Anh và một số thị trường khác.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra thuận lợi nhờ duy trì cơ chế “luồng xanh” tại cửa khẩu. Cơ chế này giúp rút ngắn thời gian thông quan, hạn chế ùn tắc và góp phần đảm bảo chất lượng hàng hóa, nhất là với mặt hàng tươi cần tiêu thụ nhanh như vải thiều. Trong điều kiện giá cao và nguồn cung hạn chế, việc lưu thông nhanh càng có ý nghĩa quan trọng đối với cả người bán lẫn người mua.
Kết quả doanh thu ước đạt khoảng 3.665 tỷ đồng đến ngày 15/6/2026 cho thấy hướng đi nâng cao chất lượng, tăng giá trị gia tăng và đa dạng hóa kênh tiêu thụ đang phát huy hiệu quả. Mùa vải thiều Bắc Ninh năm 2026 vì vậy trở thành một ví dụ đáng chú ý về khả năng thích ứng của chuỗi sản xuất, tiêu thụ nông sản trước biến động thời tiết và thị trường.
Một mùa vải khác thường đang dần khép lại với nghịch lý tích cực: sản lượng giảm sâu nhưng giá trị tăng mạnh. Từ người trồng, thương lái đến doanh nghiệp, tất cả đều phải thích nghi nhanh hơn với thị trường, nơi chất lượng quả, tốc độ giao hàng và cách bán hàng quyết định giá trị của từng kg vải thiều Bắc Ninh.



