Bỏ qua đến nội dung chính
Thứ Năm, ngày 13 tháng 8 năm 2026|

Cà phê tái sinh: 75.000 nông dân Tây Nguyên tham gia chương trình RCP

Tác giả: · Xuất bản:
Cây công nghiệpkhoảng 4 giờ trước0 lượt xem8 phút đọc
Cà phê tái sinh: 75.000 nông dân Tây Nguyên tham gia chương trình RCP
🎧 Nghe bài viết

Cà phê tái sinh đang được đặt vào trung tâm của nỗ lực chuyển đổi ngành hàng cà phê Việt Nam trước sức ép biến đổi khí hậu, yêu cầu giảm phát thải và tiêu chuẩn ngày càng cao từ thị trường xuất khẩu. Chương trình Cà phê thích ứng với biến đổi khí hậu (RCP) tại Việt Nam sẽ tập trung triển khai ở Đắk Lắk, Lâm Đồng và Gia Lai, hướng tới xây dựng vùng cung ứng Robusta tái sinh, có khả năng chống chịu tốt hơn và truy xuất được nguồn gốc.

Chương trình đặt mục tiêu tiếp cận khoảng 75.000 nông dân trong bốn năm tới, trong đó 70% nông hộ áp dụng các thực hành nông nghiệp tái sinh. Nếu triển khai đúng định hướng, các hoạt động được kỳ vọng giúp giảm khoảng 240.000 tấn CO2 và tăng 15% thu nhập cho nông dân, qua đó tạo thêm động lực để người sản xuất tham gia vào chuỗi cà phê bền vững.

Cà phê tái sinh gắn với chương trình RCP tại Việt Nam

Chiều 11/8, tại diễn đàn đối thoại Việt Nam - Uganda về phát triển cà phê bền vững trong khuôn khổ hợp tác Nam - Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam, Bộ Nông nghiệp, Chăn nuôi và Thủy sản Uganda và Tổ chức IDH công bố khởi động Chương trình Cà phê thích ứng với biến đổi khí hậu (RCP) tại Việt Nam.

Việc lựa chọn Đắk Lắk, Lâm Đồng và Gia Lai cho thấy trọng tâm của chương trình là vùng sản xuất Robusta chủ lực. Đây là khu vực có vai trò quan trọng trong nguồn cung cà phê của Việt Nam, đồng thời cũng chịu nhiều sức ép từ biến động thời tiết, chi phí đầu vào, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn bền vững của các thị trường lớn.

Theo thiết kế, kết quả của chương trình sẽ được đo lường, báo cáo và thẩm định thông qua hệ thống MRV. Hệ thống này được kết hợp với truy xuất nguồn gốc và đồng công bố kết quả, nhằm bảo đảm các chỉ tiêu về giảm phát thải, cải thiện sinh kế và thay đổi thực hành canh tác không chỉ dừng ở cam kết, mà có cơ sở kiểm chứng trong quá trình triển khai.

Giảm phát thải, tiết kiệm đầu vào và nâng sức chống chịu

Các giải pháp được chương trình đề xuất gồm sử dụng đầu vào bền vững, nông lâm kết hợp, xen canh, cải tạo đất, tưới tiết kiệm, bảo vệ rừng và nguồn nước. Đây là những hướng đi gắn trực tiếp với mô hình cà phê tái sinh, trong đó đất, nước, cây che bóng, đa dạng sinh học và hiệu quả sử dụng vật tư được xem là nền tảng để duy trì sản xuất lâu dài.

IDH cho rằng sản xuất tái sinh có thể giúp tăng năng suất 15-100%, tăng khả năng chống chịu 10-40% và tăng lợi nhuận 36-100%. Dù mức cải thiện phụ thuộc vào điều kiện từng vùng, trình độ canh tác và mức độ liên kết trong chuỗi, các con số này cho thấy tiềm năng kinh tế đáng kể nếu nông dân được hỗ trợ kỹ thuật, thị trường và tài chính phù hợp.

Việc chuyển đổi cũng nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường xuất khẩu, trong đó có Quy định chống mất rừng (EUDR) và Chỉ thị Thẩm định trách nhiệm bền vững doanh nghiệp (CS3D) của Liên minh châu Âu. Với ngành cà phê có tỷ trọng xuất khẩu lớn, khả năng chứng minh vùng trồng hợp pháp, không liên quan đến mất rừng và có dữ liệu minh bạch sẽ ngày càng trở thành điều kiện cạnh tranh then chốt.

Áp lực chuyển đổi của ngành cà phê Việt Nam

Theo IDH, sản xuất cà phê tại Việt Nam phát thải khoảng 3,5 tấn CO2 tương đương trên mỗi tấn cà phê, chủ yếu do phương thức sản xuất thâm dụng đầu vào. Trên thế giới, 20-50% diện tích phù hợp trồng cà phê có thể bị mất vào năm 2050 nếu ngành không chuyển đổi theo hướng thích ứng và tái tạo. Bối cảnh này khiến cà phê tái sinh không chỉ là xu hướng kỹ thuật, mà còn là yêu cầu để duy trì vùng nguyên liệu.

Trong nước, ngành cà phê vẫn đối mặt nhiều thách thức: diện tích già cỗi tăng, sản xuất nông hộ chiếm chủ đạo, vai trò của hợp tác xã còn hạn chế, liên kết sản xuất chưa chặt chẽ và thiếu vốn đầu tư phát triển. Những điểm nghẽn này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuẩn hóa quy trình, thu thập dữ liệu vùng trồng, kiểm soát chất lượng và giảm phát thải theo yêu cầu mới.

Hiện Việt Nam có khoảng 781.000 ha cà phê, năng suất bình quân 30,3 tạ/ha. Giai đoạn 2015 - 2025, diện tích cà phê tăng từ 641.000 lên 781.000 ha; năng suất tăng từ 24 lên 31 tạ/ha; sản lượng tăng từ 1,41 triệu tấn lên 2,19 triệu tấn, tăng khoảng 786.000 tấn. Năng suất cà phê Việt Nam cao hơn Brazil khoảng 1,4 lần, Colombia 2,8 lần và Indonesia 4,5 lần.

Xuất khẩu, chế biến sâu và yêu cầu xây dựng thương hiệu

Cùng với sản xuất, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tăng mạnh, từ 2,68 tỷ USD năm 2015 lên 8,9 tỷ USD năm 2025. Hai thị trường EU và Mỹ chiếm 46,4% kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2025. Tỷ trọng lớn từ các thị trường tiêu chuẩn cao cho thấy việc đầu tư vào truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và tuân thủ quy định bền vững sẽ tác động trực tiếp đến năng lực duy trì đơn hàng.

Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình tái canh và phát triển cà phê bền vững, đồng thời chú trọng cà phê đặc sản, nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu. Diện tích cà phê đặc sản đạt khoảng 11.500 ha năm 2025, dự kiến tăng lên 19.000 ha vào năm 2030. Tỷ lệ cà phê có chứng nhận 4C, Rainforest, Fairtrade và Organic hiện đạt khoảng 40 - 50%, so với khoảng 10% năm 2011.

Hệ thống chế biến cà phê tại Việt Nam ngày càng đa dạng, với khoảng 100 cơ sở chế biến cà phê nhân, 620 cơ sở rang xay, 15 nhà máy cà phê hòa tan và 17 cơ sở phối trộn, tổng công suất thiết kế khoảng 1,503 triệu tấn. Công suất kho bảo quản đạt khoảng 2,36 triệu tấn/năm. Nền tảng chế biến này tạo dư địa để ngành nâng giá trị gia tăng, thay vì chỉ dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô.

Không mở rộng vào đất rừng, tăng liên kết chuỗi

Theo TS Lê Văn Đức, nguyên Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, định hướng phát triển ngành cà phê thời gian tới là không mở rộng diện tích vào đất rừng, tập trung tái canh bằng giống chất lượng, đẩy mạnh nông nghiệp tái sinh, nông lâm kết hợp, tưới tiết kiệm và giảm phát thải. Đồng thời, ngành cần tăng cường truy xuất nguồn gốc, dữ liệu vùng trồng để đáp ứng EUDR và các tiêu chuẩn quốc tế.

Ở khâu giá trị gia tăng, Việt Nam cần thúc đẩy chế biến sâu, cà phê đặc sản, thương hiệu và chỉ dẫn địa lý; tăng cường liên kết nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và mô hình PPP. Chuyển đổi số, tài chính xanh, kinh tế tuần hoàn và hợp tác quốc tế cũng được xác định là những động lực quan trọng cho quá trình chuyển đổi.

Ông Lê Đức Huy, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco Daklak), cho rằng canh tác cà phê bền vững, giảm sử dụng hóa chất và nguồn nguyên liệu đầu vào để giảm phát khí thải, tạo ra sản phẩm xanh hơn, sạch hơn là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao giá trị và thương hiệu cà phê Việt Nam. Theo ông Huy, các mô hình của doanh nghiệp đã chứng minh chi phí đầu vào giảm đến 20 - 30% nhưng năng suất vẫn tăng 10 - 15%, giúp nông dân tăng thu nhập và là người hưởng lợi nhiều nhất khi trồng cà phê bền vững.

Với mục tiêu tiếp cận 75.000 nông dân, Chương trình RCP được kỳ vọng góp phần đưa cà phê tái sinh từ mô hình thử nghiệm thành hướng sản xuất có quy mô tại các vùng Robusta trọng điểm. Thành công của chương trình sẽ phụ thuộc vào mức độ tham gia của nông hộ, năng lực liên kết chuỗi, sự minh bạch dữ liệu và khả năng biến các yêu cầu bền vững thành lợi ích kinh tế cụ thể cho người trồng cà phê.

Chưa có đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Mai Thị Phương

Theo dõi mô hình lúa hữu cơ, lúa giảm phát thải và thị trường tín chỉ carbon nông nghiệp. Có loạt bài về dự án 1 triệu ha lúa.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Bình luận sẽ hiển thị sau khi quản trị viên duyệt.

để gửi bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên đóng góp ý kiến.