Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai, đã được chuyển hạng thành Vườn Quốc gia Bát Xát theo Quyết định số 780/QĐ-UBND do UBND tỉnh Lào Cai ký ngày 24/3/2026. Đây là dấu mốc quan trọng đối với một vùng rừng đặc dụng nằm ở điểm đầu dãy Hoàng Liên Sơn, nơi lâu nay được ví như một “bảo tàng xanh” của Tây Bắc.
Việc nâng hạng không chỉ ghi nhận giá trị tự nhiên đặc biệt của Bát Xát, mà còn đặt ra yêu cầu quản lý cao hơn đối với bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng vùng đệm. Trong bối cảnh tài nguyên rừng ngày càng chịu nhiều sức ép, Bát Xát bước vào giai đoạn mới với nhiệm vụ hài hòa giữa gìn giữ di sản thiên nhiên và khai thác có kiểm soát các tiềm năng du lịch sinh thái, nông lâm nghiệp.
“Bảo tàng xanh” ở đầu dãy Hoàng Liên Sơn
Tiền thân của Vườn Quốc gia Bát Xát là Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, được thành lập năm 2016. Hiện diện tích của Vườn trải dài trên địa giới hành chính của ba xã Mường Hum, Dền Sáng và Y Tý. Đây là khu vực có địa hình bị phân cắt mạnh, độ cao dao động từ 1.000 m đến hơn 3.000 m so với mực nước biển, tạo nên nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau.
Bát Xát cũng là nơi hội tụ những đỉnh núi cao bậc nhất Việt Nam như Pu Ta Leng cao 3.049 m, được biết đến là đỉnh núi cao thứ hai Việt Nam; Ky Quan San cao 3.046 m và Nhìu Cồ San cao 2.965 m. Sự chênh lệch độ cao lớn cùng địa hình núi cao hiểm trở đã tạo điều kiện hình thành dải hệ sinh thái rừng từ á nhiệt đới đến ôn đới núi cao, một kiểu hệ sinh thái đặc biệt mà ở Việt Nam chỉ có thể tìm thấy tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên và Bát Xát.
Với tổng diện tích quy hoạch rừng đặc dụng hơn 18.600 ha, trong đó diện tích đất có rừng gần 15.000 ha, chiếm hơn 80%, Vườn Quốc gia Bát Xát giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới rừng đặc dụng của vùng Tây Bắc. Những cánh rừng nguyên sinh còn tương đối vẹn nguyên là nền tảng để nơi đây trở thành kho lưu giữ nguồn gen quý, đồng thời là vùng phòng hộ tự nhiên cho khu vực đầu nguồn.
Kho đa dạng sinh học giàu tính đặc hữu
Các kết quả thống kê cho thấy hệ thực vật tại Bát Xát có quy mô rất đáng chú ý. Các nhà khoa học đã ghi nhận hơn 1.100 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 617 chi, 167 họ, phân bố trong 6 ngành thực vật khác nhau. Trong số này có tới 119 loài đặc hữu, gồm 76 loài đặc hữu Bắc Bộ và 43 loài đặc hữu Việt Nam, chiếm 10,8% tổng số loài được biết đến tại khu vực.
Nhóm loài đặc hữu nói trên có giá trị đặc biệt về sinh học và bảo tồn, phản ánh mức độ biệt lập sinh thái cũng như sự độc đáo của khu hệ thực vật Bát Xát. Đáng chú ý, Vườn còn là nơi tồn tại của nhiều loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm đang bị đe dọa ở cấp quốc gia và toàn cầu, được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ IUCN như Lan kim tuyến tơ, Hoàng liên gai, Hoàng liên 3 gai, Hoàng liên Trung Hoa, Hoàng liên chân gà.
Không chỉ giàu về thực vật, quần thể động vật của Vườn Quốc gia Bát Xát cũng được ghi nhận với 173 loài, gồm 42 loài thú, 73 loài chim, 20 loài bò sát và 38 loài lưỡng cư. Trong số này có 18 loài thú, 11 loài chim, 6 loài bò sát và 17 loài lưỡng cư thuộc nhóm nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Đặc biệt, nhóm lưỡng cư mang tính độc bản cao với các loài đặc hữu quý hiếm như Cóc sừng Hoàng Liên, Cóc núi, Cóc mày, Cóc sừng đỏ, Cóc sừng Fansipan.
Cảnh quan rừng gắn với di sản văn hóa bản địa
Vườn Quốc gia Bát Xát không chỉ nổi bật bởi rừng và hệ sinh vật, mà còn bởi tổ hợp cảnh quan tự nhiên đặc sắc. Những tuyến khám phá như Thác Đỏ, quần thể Thiết sam cổ thụ hàng trăm năm tuổi trên đỉnh Cú Nhù San, di tích Đường đá cổ Pavie hay thác Hồng Ngài đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho vùng núi biên viễn này.
Theo đánh giá được nêu trong hồ sơ và thực tiễn quản lý, hiếm có một vườn quốc gia nào trên cả nước giữ được tỷ lệ bảo tồn cảnh quan tự nhiên trong các khu rừng đặc dụng đạt trên 90% như Bát Xát. Đây là lợi thế lớn, nhưng cũng là trách nhiệm lớn, bởi giá trị cốt lõi của khu vực nằm ở sự nguyên vẹn của cảnh quan và khả năng duy trì các quá trình sinh thái tự nhiên.
Đan xen trong nền xanh của đại ngàn là kho tàng di sản văn hóa phong phú của các cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa như Mông, Hà Nhì, Thu Lao. Đời sống văn hóa từ lâu đời của đồng bào, bao gồm các giá trị vật thể và phi vật thể, là một phần không thể tách rời của không gian Vườn Quốc gia Bát Xát. Chính sự kết hợp giữa thiên nhiên và văn hóa đã tạo nền tảng để phát triển các mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng nếu được tổ chức thận trọng, có giới hạn và có sự tham gia thực chất của người dân.
Nâng hạng để bảo vệ rừng và mở hướng phát triển bền vững
Ông Lục Thượng Đại, Phó Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, nhấn mạnh việc nâng cấp Khu bảo tồn thiên nhiên thành Vườn Quốc gia Bát Xát có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và khai thác tiềm năng phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời, đây cũng là giải pháp quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ quốc phòng và bảo đảm an ninh biên giới.
Khi được nâng lên mức cao nhất trong hệ thống rừng đặc dụng, Bát Xát có thêm điều kiện để nâng tầm vị thế, giúp các tổ chức trong và ngoài nước biết đến rộng rãi hơn. Đây được xem là “chìa khóa” để tăng sức hút đối với các nguồn vốn đầu tư, đồng thời nâng cao năng lực quản lý, từ đó tái đầu tư cho bảo tồn và phát triển rừng bền vững.
Theo ông Lục Thượng Đại, trong giai đoạn mới, Vườn Quốc gia Bát Xát vẫn thực hiện nhiệm vụ tối thượng là quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng và bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái đặc trưng. Vườn sẽ đẩy mạnh khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng tự nhiên để nâng cao độ che phủ rừng; xây dựng các trung tâm lưu trữ, bảo tồn nguồn gen các loài động, thực vật nguy cấp; triển khai gieo ươm, nhân giống các loài cây bản địa, đặc hữu để cung ứng cây, con giống. Song song với đó là tiếp nhận, cứu hộ và tái thả các loài động vật hoang dã về môi trường tự nhiên.
Sinh kế vùng đệm phải đi cùng bảo tồn
Nằm ở vị trí đầu nguồn hiểm trở, Vườn Quốc gia Bát Xát có vai trò điều tiết nguồn nước, giảm thiểu nguy cơ xói mòn, lũ lụt cho vùng hạ lưu. Việc tăng cường chức năng phòng hộ môi trường tại khu vực này có ý nghĩa trực tiếp đối với sản xuất và đời sống của hàng vạn hộ dân phía dưới, đồng thời góp phần giữ vững an ninh sinh thái gắn với an ninh biên giới.
Trên nền tảng những đỉnh núi săn mây biểu tượng, các thác nước, rừng cổ thụ và di tích lịch sử, Vườn Quốc gia Bát Xát sẽ tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư để phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí như hướng dẫn, vận chuyển, cắm trại, dưỡng sinh. Tuy nhiên, định hướng khai thác được đặt trong nguyên tắc nghiêm ngặt: phát triển nhưng không xâm hại đến tài nguyên rừng.
Sứ mệnh của Vườn Quốc gia Bát Xát còn gắn với chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm. Thay vì để người dân biệt lập với rừng, Vườn hướng tới xây dựng các mô hình nông lâm nghiệp trang trại, khuyến nông, khuyến lâm và mô hình làng du lịch sinh thái cho đồng bào dân tộc thiểu số. Khi cộng đồng được tham gia quản lý, bảo vệ rừng và có thêm cơ hội mở rộng sinh kế, mục tiêu bảo tồn sẽ có nền tảng xã hội bền vững hơn.
Từ một khu bảo tồn thiên nhiên trở thành Vườn Quốc gia, Bát Xát đang bước vào một chặng đường mới. Thành công của chặng đường này phụ thuộc vào khả năng giữ rừng nguyên vẹn, bảo vệ các loài đặc hữu, phát huy giá trị văn hóa bản địa và mở ra sinh kế hài hòa cho người dân. Đó cũng là cách để “bảo tàng xanh” nơi phên dậu Tổ quốc được nâng tầm nhưng vẫn giữ được cốt lõi tự nhiên quý giá của mình.



