Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông, tỉnh Lâm Đồng, được xem là một trong những không gian rừng đặc dụng có giá trị nổi bật của vùng Nam Trường Sơn. Không chỉ lưu giữ nguồn gen hoang dã quý hiếm, khu vực này còn giữ vai trò điều tiết nguồn nước, bảo vệ đầu nguồn và góp phần duy trì cân bằng sinh thái cho một vùng rộng lớn ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
Trên diện tích 24.355 ha, Núi Ông vừa là “mái nhà xanh” của nhiều lưu vực sông quan trọng, vừa là nơi ghi nhận hệ động, thực vật phong phú. Tuy nhiên, cùng với giá trị sinh thái đặc biệt, khu bảo tồn cũng đang đối mặt với nhiều áp lực từ sinh kế vùng đệm, khai thác lâm sản trái phép và săn bắt động vật hoang dã.
Kho báu đa dạng sinh học giữa đại ngàn
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông quản lý địa hình núi cao hiểm trở, với đỉnh cao nhất đạt hơn 1.300 m. Vị trí này giúp khu bảo tồn giữ vai trò quan trọng trong điều tiết nguồn nước cho lưu vực sông La Ngà, sông Phan, sông Cái, đồng thời là lá chắn phòng hộ đầu nguồn đặc biệt quan trọng cho thủy điện Trị An.
Do tiếp giáp cao nguyên Di Linh, Núi Ông nằm trong vùng cảnh quan nguy cấp ưu tiên SA6 thuộc vùng sinh thái Trường Sơn mở rộng. Đây là khu vực được Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên, WWF, đánh giá là trọng điểm cần ưu tiên hành động bảo tồn ở cấp độ quốc tế. Nhận định này cho thấy giá trị của Núi Ông không chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương, mà còn gắn với mạng lưới bảo tồn rộng hơn của khu vực Trường Sơn.
Theo ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông, kết quả từ dự án “Nâng cao năng lực quản lý và quy hoạch bảo tồn tài nguyên” do Quỹ Bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam, VCF, tài trợ, phối hợp cùng các nhà khoa học đã chứng minh rõ giá trị sinh thái phong phú của khu vực này. Các kết quả khảo sát là cơ sở quan trọng để nhận diện những sinh cảnh ưu tiên, từ đó xây dựng định hướng quản lý và bảo vệ phù hợp hơn.
Hệ thực vật phân hóa theo độ cao, nhiều loài quý hiếm
Hệ thực vật tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông đã ghi nhận tổng cộng 763 loài thực vật bậc cao thuộc 138 họ. Sự đa dạng này phản ánh điều kiện sinh thái đặc thù của khu vực núi cao, nơi các kiểu rừng thay đổi theo độ cao, độ ẩm và địa hình.
Đáng chú ý, hệ sinh thái thực vật ở Núi Ông phân hóa thành nhiều kiểu rừng, gồm rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín nửa thường xanh và kiểu rừng cây lùn núi cao. Trong đó, kiểu rừng cây lùn núi cao phân bố độc đáo ở cao độ từ 1.000-1.300 m, tạo nên sinh cảnh đặc biệt cho nhiều loài thích nghi với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng riêng biệt.
Các nhà nghiên cứu đã định danh được khoảng 55 loài thực vật bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế. Trong số này có những loài lan quý hiếm như kim điệp, nhất điểm hồng, hoàng thảo. Sự hiện diện của các loài thực vật bị đe dọa cho thấy Núi Ông là nơi lưu giữ nguồn gen tự nhiên quan trọng, cần được bảo vệ bằng các biện pháp quản lý chặt chẽ, lâu dài.
Sinh cảnh quan trọng của nhiều loài động vật nguy cấp
Không chỉ giàu tài nguyên thực vật, hệ động vật có xương sống ở cạn tại Núi Ông cũng được đánh giá là một kho tàng lớn. Ông Nguyễn Văn Dũng cho biết, khu hệ lưỡng cư và bò sát ghi nhận sự hiện diện của 20 loài ếch nhái và 46 loài bò sát. Trong đó có nhiều loài nguy cấp cần được bảo vệ nghiêm ngặt như trăn gấm, rùa núi vàng, rùa đất lớn.
Đối với khu hệ chim, các đợt khảo sát bằng phương pháp giăng lưới mờ và quan sát trực tiếp đã xác định được 98 loài thuộc 32 họ. Một điểm đáng chú ý là Núi Ông là sinh cảnh quan trọng của loài hồng hoàng. Đây là loài chim được xem như chỉ thị cho những cánh rừng nguyên sinh ít bị tác động, bởi sự tồn tại của chúng thường gắn với các sinh cảnh rừng có cấu trúc tốt và nguồn thức ăn ổn định.
Về thú, danh lục cập nhật ghi nhận sự xuất hiện của 83 loài. Khu bảo tồn giữ vai trò cốt lõi trong chiến lược bảo tồn các loài linh trưởng bị đe dọa toàn cầu như chà vá chân đen, cùng các loài thú lớn như sơn dương, gấu chó, gấu ngựa. Với những loài này, rừng không chỉ là nơi cư trú mà còn là không gian sinh tồn, sinh sản và duy trì quần thể trong tự nhiên.
Áp lực nhân sinh và yêu cầu bảo vệ hành lang xanh
Dù có giá trị đa dạng sinh học vượt trội, Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông thừa nhận khu vực này đang chịu áp lực nhân sinh đáng kể. Vùng đệm bao quanh khu bảo tồn có mật độ dân cư cao. Một bộ phận người dân địa phương vẫn còn tập quán phá rừng làm rẫy, khai thác gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ và săn bẫy thú hoang dã.
Tuyến Quốc lộ 55 chạy xuyên qua lòng khu bảo tồn là một yếu tố đặc biệt nhạy cảm. Tuyến đường này tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, nhưng đồng thời cũng trở thành lối mở cho các hoạt động xâm nhập và khai thác lâm sản trái phép. Khi giao thông thuận tiện hơn, áp lực kiểm soát rừng cũng tăng lên, nhất là tại các điểm dễ tiếp cận.
Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm và cán bộ còn mỏng, địa hình bị chia cắt phức tạp, thời tiết khắc nghiệt khiến công tác tuần tra, kiểm soát gặp nhiều khó khăn. Một số loài động vật có giá trị kinh tế cao như tắc kè, hồng hoàng đang bị săn bắt trái phép, làm mật độ quần thể trong tự nhiên suy giảm mạnh. Đây là cảnh báo rõ ràng về nguy cơ mất cân bằng sinh thái nếu các hành vi xâm hại rừng không được ngăn chặn kịp thời.
Sinh kế bền vững là nền tảng của bảo tồn lâu dài
Để bảo vệ bền vững hành lang xanh quý giá này, Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông xác định cần triển khai đồng bộ các giải pháp có tính chiến lược và căn cơ. Trước hết, dữ liệu khoa học từ các đợt khảo sát sẽ được ứng dụng để xác định rõ các “điểm nóng” sinh cảnh, qua đó xây dựng sơ đồ tuần tra phù hợp và thiết lập hệ thống giám sát đa dạng sinh học nghiêm ngặt đối với các loài ưu tiên bảo tồn.
Cùng với đó, việc phối hợp liên ngành giữa lực lượng kiểm lâm, cảnh sát môi trường và chính quyền các xã vùng đệm cần được thắt chặt. Mục tiêu là triệt tiêu các đường dây buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép, đồng thời nâng cao hiệu quả phát hiện, ngăn chặn các hành vi khai thác tài nguyên rừng trái quy định.
Tuy nhiên, chỉ các biện pháp hành chính là chưa đủ nếu đời sống người dân vùng đệm vẫn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng. Vì vậy, lãnh đạo Ban quản lý nhấn mạnh giải pháp bền vững nhất là tháo gỡ nút thắt sinh kế. Ngành nông nghiệp địa phương cần định hướng, hỗ trợ cộng đồng xung quanh thông qua các chương trình giao khoán bảo vệ rừng gắn với quyền lợi thiết thực.
Song song với đó, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức bảo tồn cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương cần được đẩy mạnh. Khi cộng đồng hiểu rõ giá trị của rừng và được hỗ trợ chuyển dần từ thói quen dựa vào khai thác tự nhiên sang các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường, áp lực lên khu bảo tồn mới có thể giảm một cách căn bản.
Bảo vệ đa dạng sinh học tại Núi Ông vì thế không chỉ là nhiệm vụ gìn giữ một khu rừng đặc dụng. Đó còn là bảo vệ nguồn nước, bảo vệ sinh kế dài hạn và duy trì sự cân bằng sinh thái cho cả khu vực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.



