Bỏ qua đến nội dung chính
Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2026|

Ứng dụng khoa học, công nghệ: lực đẩy mới cho hộ chăn nuôi

Tác giả: · Xuất bản:
Chăn nuôikhoảng 4 giờ trước7 lượt xem8 phút đọc
Ứng dụng khoa học, công nghệ: lực đẩy mới cho hộ chăn nuôi
🎧 Nghe bài viết

Ngành chăn nuôi đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ khi số lượng hộ chăn nuôi nhỏ lẻ còn khá lớn. Thực tế này khiến việc nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo đảm an toàn dịch bệnh, tổ chức giết mổ tập trung và kiểm soát chất lượng sản phẩm gặp không ít khó khăn.

Trong bối cảnh đó, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là cách tổ chức lại sản xuất. Khi các hộ chăn nuôi từng bước thực hiện quy trình an toàn sinh học, liên kết thành tổ hợp tác, hợp tác xã và tham gia chuỗi giá trị với doanh nghiệp, ngành chăn nuôi sẽ có nền tảng vững hơn để phát triển trong thời đại công nghệ số.

Đột phá từ mô hình chăn nuôi khép kín và tự động hóa

Trang trại nuôi hơn 10.000 con gà đẻ trứng của ông Nguyễn Văn Đường, ở xã Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên là một ví dụ cho thấy hiệu quả của việc đầu tư bài bản vào khoa học, công nghệ. Trang trại nằm trên khu đất rộng hơn 2ha, cách xa khu dân cư, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức sản xuất theo hướng an toàn, giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh.

Với diện tích đất khá lớn, ông Đường đã đầu tư hệ thống chuồng trại khép kín, áp dụng nhiều giải pháp công nghệ vào quá trình chăn nuôi. Các khâu như cho ăn, uống nước được vận hành bằng máng tự động; hệ thống làm mát tự động giúp ổn định môi trường chuồng nuôi; đệm lót sinh học góp phần cải thiện vệ sinh, giảm áp lực xử lý chất thải trong quá trình sản xuất.

Mô hình này cho thấy hiệu quả rõ rệt ở nhiều mặt. Trước hết, hệ thống chuồng kín và quy trình vận hành tự động giúp hạn chế tiếp xúc không cần thiết, từ đó giảm nguy cơ dịch bệnh. Bên cạnh đó, điều kiện nuôi ổn định giúp tăng sản lượng trứng, đồng thời giảm chi phí thuê nhân công. Tuy nhiên, để xây dựng được mô hình như vậy, hộ chăn nuôi cần có quỹ đất phù hợp và nguồn vốn đầu tư khá lớn, đây là rào cản không nhỏ đối với phần lớn hộ quy mô nhỏ.

Liên kết ngang là bước đi cần thiết trước khi hình thành chuỗi

Ông Nguyễn Đức Trọng, Phó chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam cho rằng, muốn thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ với các hộ chăn nuôi thì cần tiến hành từng bước. Trước tiên, các hộ phải thực hiện đúng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Đây là yêu cầu cơ bản để giảm rủi ro dịch bệnh, bảo vệ đàn vật nuôi và tạo niềm tin cho các đối tác trong chuỗi giá trị.

Cùng với đó, cơ quan chức năng cần hỗ trợ để hộ chăn nuôi liên kết thành các tổ hợp tác, hợp tác xã. Khi có tổ chức đại diện, các hộ mới thuận lợi hơn trong tiếp cận kỹ thuật, tiêu chuẩn sản xuất, nguồn lực đầu tư và thị trường tiêu thụ. Từ nền tảng này, việc hình thành chuỗi liên kết với doanh nghiệp sẽ có tính khả thi cao hơn, thay vì để từng hộ sản xuất rời rạc, khó kết nối.

Ông Trọng nhấn mạnh: Doanh nghiệp không thể tiếp cận từng đối tượng trong chuỗi giá trị chăn nuôi, vì vậy cần quan tâm đến liên kết ngang bởi các trang trại quy mô nhỏ mà không liên kết ngang nhau thì doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp chế biến, giết mổ cũng không tiếp cận được. Phải thúc đẩy liên kết ngang sau đó mới tính đến việc xây dựng chuỗi.

Quan điểm này cho thấy, khoa học, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng một phương thức tổ chức sản xuất phù hợp. Với hộ nhỏ lẻ, liên kết ngang giúp gom nguồn lực, thống nhất quy trình, nâng cao khả năng đàm phán và tạo điều kiện để doanh nghiệp triển khai các giải pháp kỹ thuật, truy xuất, giết mổ, chế biến theo cách đồng bộ hơn.

Những điểm nghẽn trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ trong chăn nuôi và thú y vẫn còn không ít hạn chế. Chất lượng giống của một số vật nuôi chưa đáp ứng yêu cầu thị trường; chi phí thức ăn vẫn ở mức cao; việc ứng dụng công nghệ cao trong chọn giống còn hạn chế. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất, giá thành và sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi.

Một hạn chế khác là thiếu các nghiên cứu tích hợp đồng bộ giữa giống, dinh dưỡng, kỹ thuật nuôi và thú y. Trong chăn nuôi hiện đại, các yếu tố này không thể tách rời, bởi giống tốt cần đi kèm chế độ dinh dưỡng phù hợp, kỹ thuật nuôi chuẩn và hệ thống thú y đủ năng lực phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh. Nếu mỗi khâu phát triển riêng lẻ, hiệu quả ứng dụng công nghệ sẽ bị phân tán và khó tạo thay đổi ở quy mô lớn.

Việc chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc trong chăn nuôi cũng còn chậm. Điều này ảnh hưởng đến khả năng quản lý dữ liệu đàn vật nuôi, kiểm soát dịch bệnh, chứng minh chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Khi thông tin sản xuất chưa được số hóa đầy đủ, việc kết nối giữa nông hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, giết mổ và cơ quan quản lý sẽ thiếu tính minh bạch, khó hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Bà Nguyễn Thị Hương, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật thú y Việt Nam cho rằng, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách đột phá mới để cởi nút thắt về thể chế trong hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ trong chăn nuôi. Theo bà, cần giảm bớt những thủ tục, giấy tờ có liên quan đến các dự án nghiên cứu khoa học, công nghệ, từ đó tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được triển khai nhanh hơn vào thực tiễn sản xuất.

Chuyển đổi số tạo nền tảng cho ngành chăn nuôi hiện đại

Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến năm 2030, ngành chăn nuôi sẽ phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và kiểm soát tốt dịch bệnh. Mục tiêu đặt ra là tổng sản lượng thịt dự kiến đạt hơn 10 triệu tấn, sản lượng trứng hơn 25 tỷ quả và khoảng 1,6 triệu tấn sữa; đồng thời nâng cao tỷ trọng xuất khẩu và giá trị gia tăng của sản phẩm.

Ông Phạm Kim Đăng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định: Thời gian tới, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số chính là nền tảng, động lực để ngành chăn nuôi phát triển theo đúng định hướng. Trong đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý ngành, xây dựng một hệ thống số liệu được số hóa, tạo thuận lợi cho việc truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm chăn nuôi.

Như vậy, chuyển đổi số không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất và thị trường. Khi dữ liệu về chăn nuôi được số hóa, các bên có thể theo dõi tốt hơn về quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, nguồn gốc hàng hóa và tình hình dịch bệnh. Đây là điều kiện quan trọng để ngành chăn nuôi tiến tới minh bạch, chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

Để phát triển bền vững, ngành chăn nuôi không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô. Cần một cú hích mạnh mẽ từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời tháo gỡ rào cản thể chế, tăng cường liên kết giữa nông hộ với hợp tác xã và doanh nghiệp. Khi người chăn nuôi được kết nối trong chuỗi giá trị, quy trình được chuẩn hóa và dữ liệu được số hóa minh bạch, ngành chăn nuôi sẽ tiến gần hơn tới mục tiêu hiện đại, an toàn và hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế.

Chưa có đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Nguyễn Thị Hồng

Theo dõi thị trường cà phê Robusta và Arabica từ 2018. Cộng tác viên thường xuyên của các báo cáo ngành cà phê quốc tế.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Bình luận sẽ hiển thị sau khi quản trị viên duyệt.

để gửi bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên đóng góp ý kiến.