Bỏ qua đến nội dung chính
Thứ Tư, ngày 15 tháng 7 năm 2026|

Đậu nành Việt Nam: từ nguồn đạm thực vật đến vùng nguyên liệu bền vững

Tác giả: · Xuất bản:
Nông sảnkhoảng 2 giờ trước12 lượt xem7 phút đọc
Đậu nành Việt Nam: từ nguồn đạm thực vật đến vùng nguyên liệu bền vững
🎧 Nghe bài viết

Đậu nành đang được nhiều chuyên gia nhìn nhận không chỉ là một loại thực phẩm quen thuộc, mà còn là nguồn protein thực vật chất lượng cao, phù hợp với xu hướng tiêu dùng lành mạnh và phát triển bền vững. Khi nhu cầu trong nước và quốc tế tiếp tục tăng, một số doanh nghiệp Việt Nam đã đẩy mạnh đầu tư nhà máy, công nghệ chế biến và vùng nguyên liệu để nâng cao giá trị của hạt nông sản này.

Trong bức tranh đó, Công ty Sữa đậu nành Việt Nam Vinasoy là một trường hợp đáng chú ý. Doanh nghiệp vừa mở rộng năng lực sản xuất, vừa phối hợp với giới khoa học trong nghiên cứu dinh dưỡng, đồng thời xây dựng mô hình liên kết với nông dân nhằm từng bước chủ động nguồn nguyên liệu trong nước.

Đậu nành từ hạt nhỏ đến chuỗi chế biến quy mô lớn

Theo TS Lê Hoàng Duy - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng đậu nành, Công ty Sữa đậu nành Việt Nam Vinasoy hiện vận hành 3 nhà máy tại Quảng Ngãi, Bắc Ninh và TP.HCM. Trong đó, nhà máy tại KCN VSIP 2A TP.HCM, thuộc tỉnh Bình Dương trước đây, được đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường phía Nam và phục vụ hoạt động xuất khẩu.

Tổng công suất của 3 nhà máy đạt khoảng 390 triệu lít mỗi năm. Các sản phẩm chế biến từ hạt này hiện đã có mặt tại nhiều thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Campuchia và một số nước Đông Nam Á. Điều này cho thấy sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, khi được tổ chức sản xuất và chế biến theo chuỗi, có thể tiếp cận những thị trường có yêu cầu khác nhau về chất lượng.

Ông Duy cho biết, doanh thu xuất khẩu của Vinasoy năm 2025 tăng 116%, năm 2026 tiếp tục tăng 184%. Theo ông, doanh nghiệp lựa chọn định hướng phát triển bền vững, tập trung đầu tư nghiên cứu, công nghệ chế biến và chất lượng sản phẩm thay vì chạy theo tăng trưởng ngắn hạn. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào giá trị lâu dài của sản phẩm, từ giống, vùng trồng đến chế biến và thị trường.

Giá trị dinh dưỡng của đậu nành được nhìn nhận từ khoa học

Những định hướng trên cũng phù hợp với xu hướng dinh dưỡng được các nhà khoa học đề cập tại hội thảo Vai trò dinh dưỡng từ đậu nành và các loại hạt đối với sức khỏe và phòng chống bệnh không lây nhiễm, do Viện Dinh dưỡng phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng đậu nành Vinasoy tổ chức mới đây tại TP.HCM.

Theo TS.BS Nguyễn Song Tú, Viện Dinh dưỡng, đây là một trong số ít nguồn protein thực vật hoàn chỉnh với chỉ số PDCAAS đạt 1,0; tương đương protein động vật và chứa đầy đủ 9 axit amin thiết yếu. Ngoài protein, hạt này còn cung cấp isoflavone, lecithin, chất xơ và các chất béo chưa bão hòa có lợi cho sức khỏe tim mạch.

Các nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy việc bổ sung các sản phẩm từ loại hạt này và các loại hạt khác vào khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ và nhiều bệnh không lây nhiễm khác. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chế độ ăn cân bằng, ít phụ thuộc vào đạm động vật, nguồn đạm thực vật chất lượng cao vì vậy có thêm dư địa phát triển.

Công nghệ chế biến giữ lại chất xơ và hợp chất có lợi

Ở góc độ công nghệ, PGS.TS Đặng Minh Nhật, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng cho biết, các nghiên cứu trên sản phẩm chế biến từ đậu nành và yến mạch nghiền nguyên hạt cho thấy hoạt tính prebiotic tích cực. Đặc tính này góp phần nuôi dưỡng lợi khuẩn đường ruột và hạn chế vi khuẩn có hại.

Theo PGS.TS Đặng Minh Nhật, giá trị của thực phẩm hiện đại không chỉ nằm ở hàm lượng dinh dưỡng, mà còn ở khả năng tác động tích cực đến hệ vi sinh đường ruột. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển thực phẩm có lợi cho sức khỏe, trong đó công nghệ chế biến đóng vai trò quan trọng để bảo toàn các thành phần có giá trị.

TS Lê Hoàng Duy cho biết, Vinasoy đang ứng dụng công nghệ nghiền nguyên hạt nhằm giữ lại chất xơ tự nhiên, đồng thời bảo toàn các hợp chất hoạt tính sinh học như isoflavone và prebiotic trong quá trình chế biến. Với hướng đi này, giá trị của sản phẩm không dừng lại ở việc cung cấp năng lượng hay protein, mà còn gắn với lợi ích sức khỏe được nghiên cứu trên cơ sở khoa học.

Phát triển vùng nguyên liệu đậu nành gắn với nông dân

Song song với đầu tư nhà máy, Vinasoy đang phát triển vùng nguyên liệu theo mô hình liên kết với nông dân. Doanh nghiệp không trực tiếp sở hữu đất mà cung ứng giống, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ cơ giới hóa và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm trước khi xuống giống. Cách làm này giúp nông dân có thêm cơ sở để tính toán sản xuất, đồng thời giúp doanh nghiệp từng bước ổn định nguồn cung.

Hiện vùng nguyên liệu liên kết lớn nhất của doanh nghiệp tại Tây Nguyên đạt khoảng 200-300ha mỗi năm. Đồng thời, Vinasoy đang thử nghiệm các mô hình luân canh 2 vụ lúa - 1 vụ đậu nành tại ĐBSCL và ĐBSH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập cho nông dân. Nếu được tổ chức phù hợp, mô hình luân canh còn có ý nghĩa trong việc đa dạng hóa cây trồng trên những vùng sản xuất lúa truyền thống.

Để phục vụ công tác chọn tạo giống, doanh nghiệp đã xây dựng ngân hàng hơn 2.200 nguồn gen đậu nành tự nhiên, không biến đổi gen. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu trong nước hiện mới đáp ứng khoảng 30-40% nhu cầu sản xuất, phần còn lại vẫn phải nhập khẩu. Đây là thách thức lớn nhưng cũng cho thấy dư địa để mở rộng vùng trồng, nâng chất lượng giống và hoàn thiện liên kết sản xuất trong nước.

Vàng mọc trên đất và bài toán nông nghiệp bền vững

Theo GS.TSKH.VS Trần Đình Long - Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam, đậu nành được ví như vàng mọc trên đất bởi không chỉ có giá trị dinh dưỡng mà còn giúp cải tạo đất. Cây có khả năng cố định từ 30-60 kg đạm sinh học/ha, tương đương 65-130 kg phân urê. Đặc điểm này góp phần giảm lượng phân bón hóa học, giảm phát thải và hướng đến nền nông nghiệp bền vững.

Tại Quảng Ngãi, mô hình liên kết sản xuất giữa Vinasoy và nông dân đã được duy trì gần 10 năm. Ông Lê Văn Trường - Tổ trưởng Tổ liên kết sản xuất đậu nành ở thôn Phú An, xã Long Phụng, Quảng Ngãi cho biết, người dân được hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật và được doanh nghiệp cam kết thu mua theo mức giá thỏa thuận trước khi xuống giống. Nhờ đó, nông dân ổn định đầu ra và yên tâm gắn bó với cây trồng này.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, để phát huy tiềm năng của hạt nông sản này cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân. Trọng tâm là phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ chế biến hiện đại và đẩy mạnh truyền thông dinh dưỡng dựa trên cơ sở khoa học. Đây được xem là nền tảng để nâng cao giá trị sản phẩm Việt Nam, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Chưa có đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Trần Quốc Bảo

Chuyên trách thị trường hồ tiêu, quế, hồi và gia vị xuất khẩu. 8 năm theo dõi vùng nguyên liệu Bình Phước, Gia Lai.

Xem tất cả bài viết →

Bài liên quan

Bình luận

Bình luận sẽ hiển thị sau khi quản trị viên duyệt.

để gửi bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên đóng góp ý kiến.